Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

TIẾP VÈ THUẬN MẾU


(Đi Ba Trang - 8/2008 - Mưa) 
Đọc vè Vĩnh Thuận
Lận đận, rầu rầu
Chắc Báo Phi châu
Mới vừa vồ hụt.
Bây giờ tớ "phượt'
Toàn chuyện cá nhân
Chắc rất lần thân (thẩn)
Ấy đừng "ném đá".
Nắp Lê nhá nhá!
Rất giỏi bóng chuyền
Thực tập Hà Tuyên
Nhiều thơ con cóc.
Kim Cương còi cọc
Danh "mổ" (tự mổ nhọt) Khâm Thiên
Tứ chi phát triên (triển)
Thi hào mới nổi.
Đỗ Ninh "pháo cối"
Có tự thưở nào
Lý luận cao cao
Chuyên "Xây dựng đảng".


Hồ Minh sáng láng
"Kế hoạch đầu tư"
Giúp bạn vô tư
Kèm em tán chị!
Phạm Hùng, Nguyễn Nhụy
Tranh luận thật hăng
Bùi Cận thẳng băng:
Thuyết gì thuyết mãi!


  
Vũ Lương hăng hái
Cãi thày đến cùng
Nguyễn Cương ung dung
Chân tình, chu đáo.

Ngô Hùng ai bảo
Là "ngố" thật oan
Giỏi tính lo toan
Ai giầu bằng lão.
Tịnh Năng trắng áo
Hay chuyện tiếu lâm 
Nay lão ở Vinh
Có còn "bốc thuốc"?
Phan Khánh đệm Quốc
Khẩu hiệu hô to
Thể dục sớm giờ
Xóm làng Tiên Hội.
Hóa Đình phơi phới
Quản lý (lớp/ ở) Thượng Đình
Học giỏi thông minh
Ông nghè (tiến sĩ) đầu lớp!

Lê Sơn gánh sắn
Lại cứ "muốn mưa".
Báu đen quát bừa
Thằng này hâm tệ!


Kìa Đỗ Văn Thế
Ở tổ Đình Phan
Đã bị thách oan
(bánh) Đúc ngô nhớ mãi.


Lan "quăng" Tư "tỏi"
Không rõ từ đâu
Lan "trán" âu sầu
Liên "hàm LIÊN tục"!



Triều Tiên lúng túng
Tìm mãi không ra
Cái hàm "tê ta"
Mà thày vặn hỏi.

Bác Ước sôi nổi
"Bắt quyết" thế nào
Ngửa mặt nhìn sao
Ấy là "nghiệp vụ"!
Chử Thịnh Lò Sũ
Tay khỏe người đô
Rất thích hát hò
Nhạc vàng ủy mị!
Hữu Bảo Hòa Mã
Giỏi toán mê đàn
Tay ngọc ngà thon
"Tạch tè" oan uổng!
Phạm Định cực sướng
Tóc bạc răng bền!
Tổ chức cấp trên
Mọi người không sợ!


Kìa Nguyễn Hữu Sở
Năm mươi còn tân
Chẳng cần phân trần
Vợ chồng chú cháu....
Thanh Sơn "Xây dựng"
Vất vả một phen 
Thi hào mới lên
Lại còn thư pháp.
Hữu Tuyên săn chắc
Cây cảnh nuôi chim
Lão vẫn tức mình
Ba năm tiên tiến!

Hoàng Trè láu liến  
Hùng biện thật hay
Hoàng Anh (vò đầu) vặt tai 
Giơ đầu chịu báng!
(Quán bia 19C Ngọc Hà - trưa 11/8)

Chu Keng tâm ngẩm
Rủ bạn chơi hồ (gươm)
Nay hắn làm thơ
Mọi người mới ớ!
Bây giờ là tớ 
"Bơ méo" "thit trâu"
Nghe thật là rầu!
Biết làm sao được!


(Bỗng mình giật thột!
Này bác Thuận ơi
Báo vồ hụt rồi
Em đành đóng phím!)


Đoàn Văn Bản - Warszawa -
Polska  

-------------------------------------
Chú thích:

1- "Chắc Báo Phi châu / Mới vừa vồ hụt":
Trích email ThuanNV gởi DoanBan ngày 8/8: "...Cảm ơn bác đã hỏi thăm "báo châu Phi" - kg phải "sư tử" đâu - nhà iem. Dạo này móng nó cùn đi 1 tý nên vồ hụt i...em mấy lần..."

2- Đỗ Ngọc Ninh - Viện trưởng /Trưởng Khoa Xây dựng Đảng - Học viện Chính trị QG HCM

3- Phạm Văn Định - Quân đội biệt phái sang Ban Tổ chức TW Đảng



Thứ Tư, 8 tháng 8, 2012

VÈ về BA TRANG




Vài năm trước, còn làm cơ quan thì suốt ngày uống trà, đọc nét, vì bọn già sắp nghỉ, ai thèm phân việc cho.
Về hưu hay ra quán đầu phố uống chè chén. Được nghe nhiều chuyện dân gian. Gần đây lại nghe vè đường phố:

lâm tặc nhiều tiền là đoàn nguyên đức
gia đình trí thức là ngô bảo châu
anh dũng sống lâu là võ nguyên giáp
ngồi họp hay ngáp là bác đỗ mười
…………………………
………………………..
phát biểu lăng nhăng là phạm vũ luận
cuộc đời lận đận là chị ba sương
làm theo tấm gương bác hồ vĩ đại
đạo đức học mãi mị dân triền miên
(lâm tặc nhiều tiền là đoàn nguyên đức …)



Đọc bài “Ba Trang – Đồi sim tím, tím chiều chiều…”, ngồi quán cứ gọi rót trà liên tục. Say chè, tức cảnh sinh… vè bèn về máy gõ vội… kẻo hết hứng, kẻo anh Bản bên Ba Lan trách móc là chẳng chịu hưởng ứng kỷ niệm  kỷ nhọt ký ức ký ọt gì cả:

Ba Trang rừng núi
Thành lập lớp ta
Toán Cơ mười ba
Tương lai vươn xa
Rạng rỡ nước nhà
Khoa học cơ bản

Sắn khoai cùng sách
Về đất Đông Anh
Cố gắng tích phân
Vượt qua giới hạn
Đức thầy tình bạn
Thác triển mê say
Chăm học tối ngày
Quên về Hà Nội

Thượng Đình mở lối
Dọn nhà đầu tiên
Tổng hợp Tự nhiên  (*)
Đất này phát triển

Bốn bốn năm chẵn
Tựu trường nhớ sao
Bạn ơi đi nào
Lên Ba Trang nhé!



Vè vẻ ngô nghê, các bạn đừng chấp, học toán chẳng vào, văn thơ không cao, cứ viết ào ào, cho dài bờ lốc, thẹn nào thẹn nào.

(Vĩnh Thuận – Hà Nội –  Bách Thảo – 8/8/2012)
-----------------------
(*): Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (thuộc Đại học QGHN) tiếp nối truyền thống của Đại học Tổng hợp ngày xưa thời chúng ta học.

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

BA TRANG - ĐỒI SIM TÍM, TÍM NHIỀU NHIỀU...

(tiếp bài "Tháng Tám Mùa Thu Nhớ...")


Quá nửa đời phiêu dạt
Bao năm rồi chưa về lại Ba Trang...


Đồi Ba Trang bây giờ chắc vẫn dài thế nhỉ! Có khi dài chẳng kém gì phố Khâm Thiên nhà Kim Ngọc Cương đâu! (Chả là ngày ấy Kim Cương hay khoe với chúng bạn là phố nhà hắn dài lắm, dài như thế này này, dài nhất Hà Nội nhá nhá, rồi hắn còn "bênh vực" cho cái thân còm của mình với điệp khúc "đầu óc ngu si, tứ chi phát triển" he he! Bây giờ trông hắn tinh tướng chưa! Nhưng chỉ cái bụng thôi! Thế cho nên hắn vẫn phát tài! Thi sĩ nhớn từ lúc nào!). Ngắm nhìn các bức ảnh mà bạn Vĩnh Thuận post lên mà khó nhận ra chỗ nào là lớp học, chổ nào là bếp ăn ( nơi mình "tham nhũng" mấy tháng đấy! he he).





Nhớ Ba Trang , đồi sim tím tím tình bè bạn, mà từ thưở ấy đến giờ vẫn không nhạt phai! Bè bạn thương nhau, chăm nhau hết xẩy! Các bạn nhà quê "ngất ngây con gà tây" hòa nhập cùng các bạn thị thành "chán như con dán"! Mùa đông năm ấy rét buốt thế nào, ngày ấy thiếu thốn ra sao mà chúng mình

Thương nhau như thể anh em
Đêm đông rét lạnh chăn chiên đắp cùng
Sắn khoai xì xụp ăn chung
Hắc lào, ghẻ lở là cùng diệt luôn ...

Nơi ấy chúng mình cùng vui chơi, hát hò vào những đêm trăng ở khoảnh sân ven đồi với những giọng ca sôi nổi của Trịnh Kim Thanh, Mai Đình Nội, [Ngô Đức Soạn]..., cây đàn ghita của Nguyễn Đức Hòa, [Nguyễn Văn Tại] cùng những buổi tập hát rộn ràng, rồi những buổi chiều bóng chuyền trai gái đều vui! Và từ đây tình yêu lứa đôi nảy nở! Chắc là nhiều lắm! Và rồi kết trái cũng được kha khá đấy nhỉ!







Nhớ Ba Trang, nhớ những buổi đầu học "đại học"! Và từ những buổi học ấy các thày cô đã truyền cho chúng ta tình yêu và say mê toán học, để rồi hầu như tất cả chúng mình đều gắn bó với nghiệp toán cho đến lúc nghỉ ngơi! Có đúng vậy không các bác nhỉ?

Nhớ Ba Trang, nhớ thày Nguyễn Bác Văn dạy Giải tích toán học. Nhớ thày lên lớp buổi nhập môn "Toán học là vua của các khoa học", với minh họa cho bài giới hạn của hàm số bằng "giáo búp đa"!
Thày vào lớp là viết bảng liên hồi với giáo trình trên tay, mà đươc biết là thày đã dày công chuẩn bị cho khóa bọn mình! Sau này thày vào Tp. HCM. Năm 1990 thày sang làm việc tại Viện Toán Ba Lan gần một năm, mình mời thày đến nhà chơi, thày vẫn khỏe, vẫn rủ rỉ và chu đáo như xưa! Không rõ bây giờ thày có khỏe không?

Nhớ Ba Trang, nhớ thày Nguyễn Xuân My dạy Đại số tuyến tinh, không nhìn giáo trình mà "liên hồi kỳ trận" không vấp váp chỗ nào! Sự nghiệp của thày cũng vất vả, nghe nói bây giờ thày không được khỏe lắm!




Nhớ Ba Trang, nhớ thày Võ Đức Tôn chữa bài tập cho lớp B, và thày Đào Hữu Hồ chữa bài tập cho lớp  A. Thày Tôn đã là người thiên cổ rồi các bạn ạ!

Nhớ Ba Trang, nhớ cô Trần Thị Nga (vợ thày Hoàng Hữu Đường - thày Đường ra đi khi ở tuổi 53) dạy tiếng Nga chu đáo.




Nhớ Ba Trang cũng còn nhớ thày Đặng Huy Ruận đã chỉ huy khóa mình làm nhà dựng lớp.

Nhớ Ba Trang, nhớ nhiều lắm lắm...
 Nhớ Ba Trang, rồi nhớ về Tiên Hội ...




Đoàn Văn Bản - Warsaw - tháng 8 năm 2012

--------------------------------------------------------
BBT: Các anh chị có thể tham khảo thêm một số bài viết về các thầy được anh Bản nhớ trong bài viết:



Thầy Đường:

http://www.nxbgd.vn/toanhoctuoitre/?p=5&id=333&vTopicID=3


Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

NHỚ NGÀY VÀO TRƯỜNG ĐH TỔNG HỢP HÀ NỘI

(Đất Ba Trang sau 40 năm chúng ta tựu trường ĐHTH)

THÁNG TÁM MÙA THU NHỚ NGÀY VÀO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HÀ NỘI

Nhớ ngày này năm xưa - 44 năm tròn chĩnh - K13 chúng mình rục rịch tựu trường ở Đại Từ, Bắc Thái! Bao năm qua rồi vẩn nhớ nhiều về những ngày đầu chân ướt chân ráo vào đại học mà không thấy cái cổng trường "cao vòi vọi" đâu cả!


(Đường vào Đại Từ từ TP. Thái Nguyên)

Theo giấy báo nhập học thì chúng mình tập kết ở một làng xã nào đó (hình như là mang mật hiệu gì đấy) gần ga Phổ Yên. Ngủ nhờ nhà dân một đêm và sáng hôm sau cơm đùm cơm nắm cuốc bộ về Văn Yên, Đại Từ, Bắc Thái. Đường đi mê mải suối đèo dể đến ba chục cây số! 

Nhóm bọn mình còn nhẩm tính hình như đã qua chín suối, mười đèo thì phải! Nhóm này có bạn Phi Khanh ở Lò Đúc, Hà Nội, hay chuyện suốt dọc đường  giúp mọi người tạm quên mỏi mệt; lại có bạn Văn Huỵt (sau đổi là Huyên) quê Hà Nam người tròn như hạt mít mà đi bộ rất khỏe. Hai bạn này vào lớp Toán Cơ. Mấy chục năm không găp nhau, bây giờ mấy bác nơi nao, có khỏe không nào?


(Háo hức lội suối sang đất Ba Trang)

Chiều tối hôm ấy mới nhận "phòng" ở gò Kỳ Linh, ấy là lán tranh của các anh chị khóa trước. Và bữa ăn nhập trường là bát ngô "răng ngựa" bung có cả sạn vôi, nhưng mà ngon đáo để! Ấy là đám thanh niên nhà quê chúng tớ thì nghĩ thế, còn mấy bạn thị thành chắc khó hình dung!

Nghỉ ngơi được vài hôm là lao động dựng lán ở và lớp học. Mình còn nhớ điệp khúc này: 

     Sáng dậy ra bờ suối
     Rửa mặt đánh cái răng 
     Vào nhà ăn củ sắn 
     Vác dao đi rừng xanh
     Hôm nay ta lấy nứa làm tranh 
     Góp sức dựng nhà với các anh 
     Mới lên chưa biết làm thợ mộc 
     Chịu khó làm chàng lính đan tranh! 





Với sự chỉ bảo và hợp tác của các anh chị K12, lớp A dưới sự điều khiển của "thợ cả" Hồ Quốc Lập và lớp B cùng với sự tất bật đi chúi đầu về phía trước của "lão nông" Ngô Trọng Hùng, sau một thời gian chúng mình cũng có nhà để ở, lớp học bàn ghế "khang trang" và nhà ăn "hoành tráng".






Ấy là những ngày trên đồi Ba Trang sim tím, "phất phơ những tà áo ai", vui chơi hát hò sôi nổi cả trong những ngày tập quân sự chung cả khóa! Và rồi chúng ta chia thành ba lớp, bắt đầu cái sự học hành.

Đoàn Văn Bản - Warszawa - 8/2012

doanban@yahoo.com 







(Còn tiếp: "Ba Trang - đồi sim tím...")

--------------------------------
BBT xin phép dùng những hình ảnh của chuyến hành hương về đất Ba Trang tháng 8 năm 2008 - kỷ niệm 40 năm tựu trường ĐHTH HN - để minh họa bài viết của anh Đoàn Văn Bản.
Xin cảm ơn tấm lòng và tình cảm của anh Bản từ Ba Lan xa xôi!

Mời các anh chị nghe bài hát "Thời hoa đỏ" do nữ ca sĩ Thái Bảo trình bày:





Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

BÀ TÔI ĂN TRẦU



Tiếp nối bài thơ thứ 2 của Bác Keng CV về "Việt nam - Đất nước và con người", BBT xin chép bài về "cơi đựng trầu" để chúng ta ôn lại một thuở "Bà tôi - Làng tôi" của đất Việt yêu dấu:

Bà tôi ăn trầu
18:28', 4/1/ 2010 (GMT+7)
http://www.baobinhdinh.com.vn/nguyetsan/2010/1/85615/
* Bút ký của Huỳnh Kim Bửu
Sáng nào, bà tôi cũng ăn trầu. Sau khi đã giúp má tôi dọn dẹp xong nhà cửa để má bắt đầu công việc tất bật của một ngày mới, bà tôi tới ngồi bên cơi trầu đặt trên giường của bà. Cơi trầu của bà là một hộp sơn mài cũ kỹ, nắp hộp to bằng cái đĩa bàn thường sắp đồ cúng ngày nhà có giỗ.


Cơi trầu. Ảnh: T.M


Bà đựng đủ thứ trong cơi trầu: vài thếp trầu xanh, mấy quả cau tươi, chừng một nắm rễ khô cắt sẵn dài bằng đốt ngón tay, một dao xếp, bộ cối giã trầu bằng đồng cùng mấy viên thuốc lá rê to bằng quả trứng gà gói trong một lớp lá chuối xanh... Bà còn đặt trên giường “ông” bình vôi bằng đất nung màu đỏ khé và cái ống nhổ đồng thau luôn được chùi sáng. Đôi tay bà khẳng khiu, một tay bà cầm lá trầu, tay kia cầm dao chìa vôi rọc theo sống lá để chia đôi lá trầu. Xong, bà lấy một nửa lá trầu, dùng bàn tay ũi ũi cho thẳng trước khi quệt vôi, têm trầu. Bà bỏ miếng trầu vừa têm kèm với vài miếng rễ, miếng cau tươi (có khi là cau khô bà ngâm nước trước cho mềm) vào cối giã trầu. Bà giã giã, xoáy xoáy một hồi cho cối trầu nhuyễn, rồi dùng chày giã trầu lùa hết trầu vào miệng. Bà ngồi ăn trầu với tư thế một chân xếp trên chiếu, một chân dựng đầu gối, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Những lúc này, tôi thương bà lắm và thầm mong bà sống lâu. Bà nhai trầu cho tới khi miệng bà ứa nước cổ trầu, và bà đưa tay cầm ống nhổ, nhổ cổ trầu vào đó. Bà còn dùng khăn trầu quệt ngang miệng, cho sạch. Lũ con cháu chúng tôi vẫn “chê” cái khăn đỏ quạch cổ trầu của bà, nhưng bà thì không giận, nghe xong chỉ tức cười mắng yêu một câu quen thuộc: “Tổ cha bay”. Bữa trầu của bà kết thúc khi bà ném bã trầu vào ống nhổ và cầm ly nước súc miệng.  
Tuy không thường ăn trầu, nhưng có khi má tôi cùng ngồi ăn trầu chầu hầu bà tôi. Má têm trầu, giã trầu cho bà, rồi mời bà ăn trầu và má cũng ăn một miếng với bà. Họ cùng nhai nhai, nhổ nhổ và chuyện trò thật vui vẻ. Câu chuyện giữa bà với má thường là chuyện bà thương má tảo tần, chuyện mấy đứa cháu của bà ngoan, còn má thì ngồi nghe… Những khi bà tôi ngồi ăn trầu một mình, bà có vẻ nghĩ ngợi. Lũ con Thơ, con Ngây - con cậu tôi- cứ bảo bà đang “ôn” lại chuyện cổ tích để sẵn sàng kể cho chúng nghe. Ai cũng bảo, bà tôi có cả một kho truyện cổ tích. Bà tôi không dùng thuốc lá rê đánh răng như má tôi, vì răng bà đâu còn nữa. Má cầm viên thuốc lá rê (vê tròn bằng đầu ngón tay út) giữa ngón tay cái và ngón trỏ. Má đánh dịu nhỉu viên thuốc lá rê trên hai hàm răng nhuộm thuốc rỏi của má. Ăn trầu với ngoại xong, trông má tôi xinh hơn, má có “Nét cười đen nhánh sau tay áo” (Thơ Lưu Trọng Lư). Mỗi khi bà tôi bổ xong miếng cau tươi, thả cái vỏ cau ra chiếu, thế là mấy chị em chúng tôi đang vây quanh bà tranh nhau nhặt để đánh răng. Con Ngây cầm miếng vỏ cau miết trên hai đường răng trắng của nó, được mấy lượt thì trông răng nó trắng ngời lên.
Mỗi khi đi đâu, bà “dỡ” trầu theo, gói gọn trong chiếc khăn trầu. Bạn ăn trầu của bà là những bà Kỷ, bà Ngôn, bà Nhẫn… hàng xóm, bà và họ thường sang chơi nhà nhau. Đôi khi ông Ngôn, ông Ngữ, cũng là bạn già hàng xóm của bà, đem biếu bà thếp trầu xanh, nắm hạt cau khô, rồi cùng ngồi “ăn” trầu với bà. Má tôi ra chào và thường than giùm cho họ: “Đi đâu, giở những cối cùng chày” (Thơ Nguyễn Khuyến), còn họ thì phân bì với ông Huyện Lệ. Huyện Lệ ra đi là có người theo võng giá, điếu đóm miếng trầu, điếu thuốc. Lâu lâu bà lại thay “ông” bình vôi, vì ông đã ăn đầy “bụng” chất cặn bã… của vôi, còn miệng thì bé lại. Ông Ngôn cứ bảo: “Ông bình vôi như thế giống ông quan tham quá!”. Nghe vậy, ai cũng cười tán thưởng ông Ngôn. Bà vẫn chờ đến ngày má đi chợ phiên Phú Đa, giao “nhiệm vụ” cho má đem ông bình vôi cũ ra đặt ở gốc cây đa đầu làng, bên cạnh những hỏa lò, ông táo sứt đầu mẻ trán, và mua cho bà bình vôi mới.  
    
Ăn trầu. Ảnh: T.M

Cũng như nhiều nhà khác, nhà bà tôi trồng một hàng cau quanh vườn và cho leo chằng chịt mấy dây trầu không, để “tự túc” món trầu cau. Nghề buôn trầu là sinh kế của nhiều gia đình quê tôi. Nguồn trầu dồi dào nhất ở đây là trầu nguồn, do các thuyền buôn từ An Khê, Tây Sơn xuôi dòng sông Côn chở xuống. Thường các thuyền này còn chở kèm theo măng le, mật ong và nhiều sản vật khác của vùng thượng du và trung du. Trong các chợ Gò Chàm, Đập Đá và các chợ quê, chợ nào cũng có hàng trầu cau. Tương truyền, ông Biện Nhạc, tức Nguyễn Nhạc – lãnh tụ phong trào nông dân Tây Sơn, thời chưa dấy nghiệp, đã sinh sống bằng nghề buôn trầu và dấu tích còn lưu lại đến giờ là bến Trường Trầu. Chợ Gò (Tuy Phước) mỗi năm chỉ họp một phiên duy nhất vào sáng mồng một Tết để người ta đi mua lộc Bà là những thếp trầu mướt rượt, quả cau tươi... Bà tôi già yếu mà Chợ Gò thì xa, cho nên bà không đi chợ được, nhưng bà vẫn có nhiều lộc Bà, do mấy người trong làng đi chợ mua về đem biếu bà. Phiên chợ này, nay thành lễ hội truyền thống ở địa phương.
Cây cau với dây trầu quấn chặt là biểu tượng của tình yêu chung thủy vượt lên trên số phận để còn yêu muôn đời muôn kiếp. Người ta ăn trầu để thưởng thức mùi thơm, vị ngót và cho thắm đỏ đôi môi. Đó cũng là biểu tượng của tình yêu ngọt ngào, sống chết có nhau của tình anh em ruột thịt (theo “Sự tích Trầu – Cau”). Người phụ nữ ăn xong miếng trầu, chắc là thêm duyên đằm thắm mặn mà. Nhà nào mà chẳng có khay cẩn, hộp trầu để có sẵn “miếng trầu là đầu câu chuyện” mỗi khi tiếp khách, cái hộp thau để dâng trầu cúng gia tiên. Lễ cưới, lễ hỏi, dẫu cho đủ lễ vật đến đâu, cũng không thể thiếu trầu cau để chúc mừng sự hạnh phúc bền lâu của lứa đôi: “Cưới em một thúng xôi vò / Một con lợn béo, một vò rượu tăm / Cưới em đôi chiếu em nằm / Đôi chăn em đắp đôi trằm em đeo / Cưới em quan tám tiền cheo / Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau” (Ca dao). Lần nào cũng vậy, đến ngày giỗ ông, bà cũng lo tinh tươm, đẹp mắt hộp trầu dâng cúng ông, do chính bàn tay khéo léo của bà sắp đặt. Má tôi vẫn bảo: “Bà vẫn dạy má têm trầu cánh phượng và cách lễ phép mời trầu để cho ba bay yêu suốt đời”.
Bà tôi mất đã lâu. Cảnh quê ngày nay đã thay đổi nhiều, cuộc sống quê cũng khác trước. Các bà, các bác gái, các chị mặc đồ bộ thong thả thoải mái, không ai còn mặc bộ bà ba nhuộm đen thô dày, sẫm tối như hồi xưa nữa. Tìm đâu ra người răng đen, ăn trầu? Mới rồi tôi về quê, ngồi trên thềm cũ của nhà ngoại, tôi nhớ thuở ngày xưa: Nhớ bà tôi miệng ăn trầu và cái khăn trầu vắt vai của bà, nhớ hình bóng một cậu bé - vẫn ham thích trò chơi cưỡi ngựa tàu cau chạy lông nhông trong sân nhà ngoại mình. Cậu bé ấy, chính là tôi - cách đây mấy mươi năm về trước. Tôi nhớ những hôm tôi, Thơ và Ngây tranh nhau giã trầu cho bà, vì ai cũng yêu bà lắm.