Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Nước mắt ở Tiên Lãng

CVK St



Nước vẫn xưa
Những điều vô lý
Thiên hạ thái bình
Vàng ròng  chìm đáy nước
Rác rưởi, bọt bèo nổi lên trên

Con cháu Chí Phèo vẫn chưa thể nguôi quên
Máu ông nội lấm đường làng Vũ Đại
Đất quê hương vẫn bao điều ngang trái
Bọn cường hào Bá Kiến vẫn còn đây
Nỗi xót xa trên thăm thẳm đường cày
Người dân vẫn ngàn đời áo vá
Ngày hai bữa cua đồng cơm giỏ
Sống ngâm da, chết ngâm xương
Phận bạch đinh an bài đâu dễ đổi
Trên những cánh đồng bạc màu gió thổi
Bóng những con dân thân vạc thân cò
Suốt một đời quai đê lấn biển
Để một ngày lũ cháu con Bá Kiến
Cướp đất, phá nhà
Chúng nhân danh ai?

Ta đã sống những  ngày mất nước
Cả dân tộc đã vùng lên đuổi giặc
Những người dân bỏ cày cầm súng
Khát tự do sẵn sàng làm cách mạng
Giặc tan rồi họ trở lại làng quê
Mặn chát những giọt mồ hôi ngăn biển
Mặn chát những đường cày vỡ đất
Để một ngày lũ cháu con Bá Kiến
Cướp đất phá nhà
Chúng nhân danh ai?
Chúng nhân danh chính quyền
Chính quyền là của dân
Do dân
Vì dân
Sao nỡ đẩy dân đen xuống bùn đen?

Trần Chấn Uy

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

CLB TRÀ và iPHONE 5

Sáng thứ Năm 8-11-2012 chúng tôi hồ hởi đến Câu lạc bộ Trà Bách Thảo để chứng kiến buổi gặp mặt của 2 bạn học hồi cấp 1 với nhau: TS. toán Dư Khương và TS. lý Hồng Nhung (Lớp 10G Xuân Đỉnh). Hai chị sau những chuyến công tác dài ngày ở trời Âu về nước, nay hẹn gặp nhau ở CLB Trà Bách Thảo. PGS. Hồng Nhung (Viện Vật Lý VN) đập hộp con iPhone 5 học sinh vừa biếu. Nhờ thế, hôm nay CLB có chuỗi ảnh ngon lành cành đào. Mời bà con K13 coi nhé.

Chị Dư Khương và chị Mỹ Hạnh (Lớp 10G Xuân Đỉnh):

Chị Khương và anh Cương nghe anh Nội kể chuyện miền núi:

Chị Khương tiếp tục chủ đề "Diện chẩn" để giữ gìn sức khỏe với anh Tân (cấp 3 Xuân Đỉnh):

Tôi và anh Nội được chụp với 2 hoa hậu của CLB:

Anh Nội trao đổi về kiến thức sức khỏe với anh Kim Cương:

Anh Cương cùng anh Tường (K13 Lý ĐHTH HN) có những giây phút thư giãn bên bàn trà - cà phê:

Cám ơn con iPhone 5. và cảm ơn 3 chị Dư Khương, Hồng Nhung và Thúy Hạnh. Hẹn kỳ gặp mặt CLB sau nhé.

(Vĩnh Thuận - Ngọc Hà - 14/11/2012)

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

THAM NHŨNG ĐẠI CÁO
















(Dựa theo Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)

Cùng hô: Chống tham nhũng – chỉ để an dân

Từng nghe:
Việc tham nhũng cốt để vinh thân
Sau tiền bạc, mưu cầu điền địa
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Ruộng nương, bờ cõi đã chia
Ruộng nương, bờ cõi đã chia
Phong tục cấy cày cũng khác
Từ Lạng Sơn, Thái Bình bao đời chuyên trồng lúa nước
Đến Khánh Hòa, Tây Nguyên vẫn cứ Cà phê
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Nhưng cơm gạo, thời nào cũng có

Cho nên:
Cải cách ruộng đất
Cải cách, bạo tàn nên thất bại
Hợp tác, thích lớn phải tiêu vong
Gió Đại Phong tưởng cứ thế mà lên
Bắc Hưng Hải đâu ngờ nay bỏ đó
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi

Vừa rồi:
Khi chính trường lắm sự lùng nhùng
Để trong nước, lòng dân tán loạn
Quân Bành trướng đã thừa cơ gây họa
Bọn tham tàn thì bán nước cầu vinh
Đốt nhà Vươn trên ngọn lửa hung tàn
Dìm Văn Giang xuống dưới hầm tai vạ
Nặng thuế, phí… dân không còn túi.
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Tận thu, tăng phí… trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế, phí… dân không còn túi.
Đẩy ngư dân đua nhau bám biển,
Ngán thay súng đạn quân thù
Dân rủ nhau vào núi, đãi cát tìm vàng
Khốn nỗi rừng cho thuê hết cả.
Khoái sản vật, ăn toàn đặc sản, hàng quán khắp nơi
Nhiễu nhân dân tê giác, ngà voi, dân nuôi cả hổ
Dân thi nhau vào đồn tự tử
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khôn cùng
Thằng há miệng, đưa nhe răng
Máu mỡ bấy no nê chưa chán
Nay xây nhà, mai xây điện
Đất đai nào phục vụ cho vừa
Nặng nề cuộc sống dân đen
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, ổ cứng 500 Gb không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Ôzôn không rửa sạch mùi
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha.

Ta đây:
Từ miệt vườn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Quân thù lớn, nên đội trời chung
Mất biển đảo, lặng im mà sống
Đau lòng, nhức óc, chốc đà mấy chục năm trời
Nếm mật, nằm gai, há phải để hôm nay nghèo khó?
Tham ăn thì… nghẹn,  cấm bọn dân suy xét linh tinh
Cho đến hôm nay, loạn quan tham dân nhìn đã kỹ
Những trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa lúc dân loạn khắp nơi, chính lúc “bạn vàng” đang mạnh

Lại ngặt vì:
Ngân sách như sao buổi sớm
Tiền vàng, như lá mùa thu
Tiền của công, vào túi hết rồi
Mà nhân dân cứ giữ chắc vàng, bạc
Thế mà lũ giặc, vẫn đăm đăm muốn chiếm Biển Đông
Nơi cần hiền tài, con cháu ta trị vì hết cả.

Thế mà:
Trông tiền, tiền vàng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần vì giận “bạn vàng” trở mặt, dân bất an, trong nước khó khăn,
Lương công chức tăng chậm mấy lần, ngoài hải đảo, quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Đầm ông Vươn, chục khẩu không nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Rực đỏ màu áo dân Dương Nội, hòa nước sông, thay rượu ngọt nào
Dân oan biểu tình, lấy yếu chống mạnh,
Nhà quan mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:
Đem đại nghĩa đặt dưới hung tàn,
Bỏ chí nhân thay bằng cường bạo
Bỏ chí nhân thay bằng cường bạo
Trận Tiên Lãng sấm vang chớp giật,
Miền Văn Giang trúc chẻ tro bay.
Mùi tiền bốc lên, quân thanh càng mạnh.
Hai chục bị bắt, tưởng nông dân nghe hơi mà mất vía
Quan quân đàn áp, nhà báo nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài đất Mê Linh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Vụ Bản đất cũ thu về.
Cần Thơ dân cởi áo quần, tiếng vang vạn dặm
Cồn Dầu cướp xác chôn vội, nhơ để ngàn năm.
Đoàn Văn Vươn lên truyền hình nhận tội. Đoàn Văn Quý, cạo trọc đầu để tự xin hàng
Thế lực thù địch: Nhà Vươn đã phải vào tù
Quần chúng nhân dân: Mấy chục thằng đưa Lộc Hà nhốt lại.
Công an gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Hải Phòng cứu cán bộ, mà dân kia hăng lại càng hăng.
Chẳng lẽ bó tay để đợi bại vong,
Dù đã đến lúc trí cùng lực kiệt.
Cố đánh mà chúng không chịu khuất, lại còn đòi mưu phạt tâm công.
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, ngờ đây vẫn không thay lòng đổi dạ
Ta vẫn còn đương mưu tính
Nếu cần cứ chuốc tội gây oan.
Quyết giữ ý kiến một người, dù gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, mặc kệ cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:
Ban Phòng chống tham nhũng hội họp không ngừng
Nhưng mấy vụ Vina… đổ dầu đám cháy
Nhâm Thìn tháng tám, Bầu Kiên, Chí Dũng bị đưa nhốt trong tù
Năm ấy tháng mười, hàng loạt quan chức Vinashin cũng cho vào nhốt lại.
Trước sai CAM chặn báo mạng đưa tin
Sau lại có công văn cấm đọc Quan làm báo
Bọn biểu tình ta điều binh thủ hiểm, chặn mấy đứa tiên phong
Sau lại cho bọn côn đồ, ném mắm tôm trộn nhớt.
Ngày một tháng mười, Hội nghị trung ương mở đầu trong bí mật
Ngày mười lăm, Tổng Bí thư nghẹn ngào xin lỗi nhân dân
Ngày mười bảy, Chủ tịch nước kêu gọi vượt qua sợ hãi, khó khăn
Ngày hai hai, Thủ tướng nhận lỗi  trước dân, hứa sai đâu sửa đấy.
Thuận đà dân đưa nhau kêu cứu, cuồn cuộn dân về tụ tập vườn hoa
Quân đem dây bốn mặt quây vườn, lại cử cả công an canh nghiêm ngặt
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Du côn chọn kẻ vuốt nanh
Chúng vung đá: lắm đứa gãy sườn, đám dân oan: tát khô, bắt cạn
Đánh một trận, sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác dân oan.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Trại Lộc Hà, kêu như đê vỡ.
Đoàn Văn Vươn lên truyền hình nhận tội
Đoàn Văn Quý, cạo trọc đầu để tự xin hàng
Đầm Vươn, Văn Giang, Vụ Bản, dân đứng đầy đường
Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Vườn hoa,
Quân biểu tình không ngờ, vẫn quyết vào đối mặt
Nghe tin bắt đồng bọn, bọn yêu nước kéo lên để viếng thăm
Dày đặc, đầm đìa công an
Thương nước non, máu đã chảy thành sông, Trại Thanh Hà, nghẹn ngào tiếng khóc
Quanh Hồ Gươm, rào sắt chất thành núi
Dày đặc, đầm đìa công an
Cứu hai biểu tình viên, công an quay gót chẳng kịp
Giam giữ người trái luật, phải thả cho về.
Hà Nội mới vu cáo biểu tình, được bao che, vẫn nói bừa văng mạng
Dân ta nghe chỉ cười thầm thương hại, cứ nhủ thầm Trời Phật sẽ tính sổ bọn sát nhân
Đài Truyền hình, có cả súng máy đạn đồng, mấy chục người đến thôi mà đã hồn bay phách lạc.
Giám đốc vào phòng đóng kín cửa, dân về rồi mà vẫn tim đập, chân run.
Họ đã tham sống, sợ chết mà phải sống hai lòng
Dân thấy thế thì thôi, về ăn thịt chó lấy sức
Chẳng cần mưu kế kỳ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay.
Xã tắc biết có vững bền, Giang sơn biết còn hay mất?
“Càn khôn bĩ rồi có thái, nhật nguyệt hối rồi có minh?”
Hai mươi năm, chống tham nhũng ầm ầm
Càng chống, tiền công sẽ không còn một cắc.
Âu cũng là trời đất tổ tông
Linh thiêng mà không thèm phù trợ

Than ôi!
Chương trình chống tham nhũng
Cứ như đánh trận giả hàng năm*
Bốn phương, thế giới đang nhìn
Đất nước ta, bày trò vui quá hội
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hô:
“Chống tham nhũng, chỉ để an dân*”

Xin tạ tội với Cụ Nguyễn Trãi.
Kỷ niệm một năm với anh em biểu tình yêu nước, ngày 11/11/2011-2012.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

CLB Trà Bách Thảo 1-11

Ngày đầu tháng 11 trời cuối thu nắng dịu nhẹ, sau mấy tháng vắng bóng ở CLB Trà - Cà phê K13 Toán +Xuân Đỉnh, anh Kim Ngọc Cương đi con xe máy đến gặp mặt anh em. Anh Cương cùng anh Bùi Minh Tân trao đổi kinh nghiệm xử lý cái thằng "tai biến hơi bị nhẹ" ra sao (chả là anh Tân - lớp cấp 3 Xuân Đỉnh - vừa bị "cảm" mà mất 3 tuần rồi vẫn chưa trở lại thể trạng lực sỹ như xưa).




Tôi hỏi về quan hệ với nàng thơ nay ra sao, thì anh Cương nói là "ly thân" rồi, vì "nàng" không chịu được "thằng chập mạch là tôi". Tôi chớp ngay giây phút anh luyến tiếc về nàng:


Chị Khương sau mấy tháng đi du lịch trời Tây khi về đất Việt đã đến trà lá với anh em CLB từ tuần trước. Dạo này chị lại hành nghề "diện chẩn cổ truyền đông y", bèn thực hành ngay cho ông bạn Tân xuân đỉnh:





Anh Hữu Sở đến sau lại góp vui bằng vết nứt trên trán, làm chị Khương suýt rơi lệ vì 3 ông bạn sập sệ - Cương, Sở, Tân xuân đỉnh (tuy rằng anh Sở thật thà nói rằng do trên cầu thang giảng đường ĐHQG mải liếc em sinh viên "đẹp ơi là đẹp" thành ra có tý chút vấp váp, anh bẩu: "nhỏ như con thỏ" thôi mà).

Chúng tôi nhất trí rằng "sức khỏe là vàng", nên tích cực ăn chơi nhảy múa hít thở không khí trong trẻo ở Bách Thảo cho nó lành. Và hẹn nhau thứ Năm tới (8-11-2012) lại ra ngồi tếu táo với nhau trong cộng đồng K13 Tổng hợp và cấp 3 Xuân đỉnh:

-------------------------
Đoạn kết có hậu:

Anh Đỗ Xuân Thành từ Đông Anh sang, kéo chị Khương, anh Nội và tôi đi nhậu với đám Xuân Đỉnh ở nhà hàng bia hơi 19 C Ngọc Hà để mời bạn bè chuẩn bị cuối tháng 11 sang Đông Anh dự lễ cưới con trai đầu của anh.


Chú ý: Bấm vào giữa ảnh để coi hình to và rõ hơn

(Vĩnh Thuận - Ngọc hà - 8/11/2012)


Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

VỚI BÀ THỦ TƯỚNG
















(viết tặng bà Ingluck Shinawatra sang thăm Việt Nam)

Trời Hà Nội hôm nay lất phất mưa bay
Phố Hàng Gai vẫn bình yên như mọi ngày của phố
Bỗng rộn ràng đón một vị “nữ vương”
Của xứ sở chùa vàng – nước Thái

Bà thủ tướng quì xuống thắp nhang, khấn trước chùa Một Cột
Và viếng thăm khu di tích Bác Hồ
Thật nhẹ nhàng lịch lãm
Hà Nội cũng khoác cho bà “chiếc khăn mỏng” ..Mùa thu

Bà thủ tướng đẹp như dáng “kiều thơm” trong thơ Quang Dũng
Một cuộc vi hành giản dị tự nhiên
Sự “vương giả” của bà ẩn đi trong nụ cười thân thiện
Không lấy nụ cười giả tạo để làm giả bình dân

Đất nước chúng tôi không thiếu những người đàn bà tài giỏi
Đánh giặc ngoại xâm và dựng nghiệp quốc gia
Tôi muốn hỏi (khẽ thôi) mấy vị đàn ông kém cỏi
Có xấu hổ không khi được bắt tay bà…?

Trần Trương
(trannhuong.com)

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Cảm nhận thơ


Nhân dịp ngày phụ nữ VN 20-10, tôi nhận được email của nhà thơ lớp ta C.V.Keng mời đọc và cảm nhận 3 bài thơ viết về những người phụ nữ rất gần gũi với anh. Lâu nay chỉ quen viết chứng minh toán học, lập luận ngang phè rồi đắc chí vỗ đùi tự khen mình đúng, thằng khác sai hết. Bây giờ thấy khó mà viết cho ra văn vẻ được, lại còn phải bình thơ nữa chứ. Thật là “nhiệm vụ bất khả thi”.  Nhưng rồi tôi chợt nghĩ, cứ coi như mình trở lại thời đi học phổ thông, được cô giáo dạy văn ra cho một đề tập làm văn “Hãy viết cảm nhận của em khi đọc 3 bài thơ nhân ngày 20-10 của C.V.Keng ….”. Và đây là bài nộp cho cô giáo.

CẢM NHẬN BA BÀI THƠ NHÂN NGÀY 20-10


Mặc dù mới bắt đầu là độc giả thơ của C.V. Keng cách đây chưa lâu, từ khi anh giới thiệu với bạn bè cùng khóa K13 Toán ĐHTH Hà Nội (1968-1972) trang thơ của mình trên lucbat.com, tôi đã sớm hâm mộ anh qua những câu lục bát đậm chất ca dao. Anh đã mặc nhiên trở thành “nhà thơ” của K13, mặc dù K13 có một số “nhà thơ” nữa, nhưng chưa đến tầm cỡ vượt ra ngoài blog K13toan6872 sang tận …  Đức quốc!
Gặp nhau sau 40 năm, dịp anh cùng gia đình về HN, con người C.V.Keng đúng như tôi hình dung qua thơ, trầm tĩnh và hướng nội, dường như đã trải qua nhiều nỗi thăng trầm của cuộc đời, rất điển hình của mẫu người ở tuổi tóc đã cuối thời hoa râm, đầu thời cước bạc; mẫu người ưa suy ngẫm về quá khứ và chiêm nghiệm trong thực tại, đang nói về ngày nay (bất cứ chủ đề gì) bỗng bùi ngùi nhắc đến “ngày xưa …”.
Những chủ đề C.V. Keng muốn nói qua thơ những bài thơ này không mới, cái đặc biệt là ở chỗ cảm nhận của riêng anh như người trong cuộc.  Nỗi lo lắng xót thương của người mẹ cho đứa con dứt ruột đẻ ra đang ở chiến trường, nơi cận kề cái chết, qua cảm nhận của C.V.Keng

Ruột Tằm đau quặn nhả Tơ
Con đi chiến trận mẹ lo đêm ngày

“Ruột tằm đau quặn nhả tơ” không còn vô hình nữa mà thật hiện hữu, cụ thể. Lòng mẹ hiền nhân ái, “lo tơ vàng vướng chỉ để lòng Tằm đau”, lo cho con từ lúc tập đi, con ngã mẹ đau, cho đến tuổi vào đời, thức đợi con mỗi khi về muộn. Và không biết đã có ai như C.V.Keng thấu hiểu và cảm thông với người mẹ phải đi lao động ở nước ngoài, con thiếu mẹ, mẹ xa con, thương con và thương chính bản thân mình. Kiếp này đành lỗi hẹn, “mẹ chờ kiếp sau”

Tuyết rơi lòng mẹ thẫn thờ
Tình thơ liệu đủ, mẹ chờ kiếp sau ?

Tôi có thắc mắc là tại sao C.V.Keng mới chỉ viết về người mẹ, người yêu mà chưa được đọc bài nào anh viết về người vợ. Vợ mới là người sống với ta gần nhất và cũng là lâu nhất. Vậy mà thật là bất công ! Chắc anh có nhiều bài còn hay hơn nhiều (tôi tin thế) về người vợ đảm đang thủy chung hết mực, có lẽ những bài thơ này chứa chan tình cảm yêu thương, những tâm sự thầm kín, những kỷ niệm riêng tư chỉ nên đọc giữa 2 người !
Tôi đọc lại nhiều lần bài kỷ niệm Hồ Gươm (vì luôn thích thơ tình yêu), những câu tả cảnh đẹp Hồ, hình ảnh nên thơ nên nhạc, in dấu trong tâm trí không chỉ một người khi xa Hà Nội.

Trăng ngần đợi gió dẫn sang
Tháp Rùa lấn bóng thênh thang mây trời
            
              Tôi đã dành hẳn một buổi chiều đi dạo quanh hồ, ngắm tháp Rùa một mình “thênh thang” giữa Hồ Gươm, như kiêu sa ngó quanh phố phường Hà Nội chật chội, ầm ĩ và nhốn nháo. Tôi đã đứng mãi trên cầu Thê Húc, cây cầu đỏ duyên dáng uốn bờ vai cong thon thả soi bóng trên lăn tăn mặt nước Hồ. Ừ có lẽ khi ngây ngất hồn thơ ta sẽ cảm nhận được “Chồng chềnh Thê Húc nghiêng soi” như C.V.Keng. Tôi tự nhắc mình lần sau phải mang theo một bầu rượu, như người ta thường nói “bầu rượu túi thơ” mới được. Và có say sưa ngả nghiêng trời đất như thần tửu thần thơ Lý Bạch thì chắc là sẽ thấy được “nước Hồ lay tháp Thiên Thanh”.
            Đáng ra theo cấu trúc của bài tập làm văn, đến đây phải có vài câu nêu những khiếm khuyết, gọi là góp ý với tác giả. Tuy nhiên, xin các bạn miễn cho tôi nhiệm vụ quả thực là khó khăn mà lại thiếu tế nhị này. Vì như thế không khác gì trong các cuộc họp kiểm điểm phê bình, bao giờ người ta cũng rào đón, bắt đầu bằng: “đồng chí X có nhiều ưu điểm, điểm A, điểm B, …  nhưng… và nhưng …. 
            Mời nhấn vào đường link này  http://lucbat.com/news.php?id=10999 tới bài đăng trên lucbat.com để đọc toàn văn 3 bài thơ và tự mình rung cảm cùng tác giả.

                                                                                                       Hà Nôi, 10/2012
                                                                                                   NGUYỄN ĐÌNH HÓA   

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

VE VẺ VÈ VE (CV Keng st)


NHỮNG BÀI VÈ ĐI CÙNG NĂM THÁNG
(CV Keng St)




















Người Việt có một kho tàng văn học dân gian phong phú: Truyện kể, thơ, ca dao, hò vè…Trong đó VÈ được lưu truyền, phổ biến trong xã hội và được quần chúng đón nhận khá dễ dàng do tính chất dân dã (dễ nhớ, dễ thuộc) của thể lọai văn học này.
Theo Đại Nam quốc âm tự vị , VÈ là chuyện khen, chê có ca vần và việc sáng tác VÈ là việc đặt chuyện khen, chê có ca vần. Đây cũng là đặc trưng cơ bản của VÈ. Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho biết VÈ được ra đời cách đây khoảng vài thế kỷ, từ TK 18 dưới thời phong kiến và kéo dài cho đến ngày nay. Nó tồn tại trong xã hội để đảm nhiệm cái chức trách “khen, chê” được nhân dân giao phó kia. Về hình thức, VÈ sử dụng câu bốn chữ, năm chữ, lục bát, hát giặm, nói lối.
VÈ được chia làm nhiều thể loại: Có VÈ đồng dao là những bài hát dành cho trẻ em, VÈ thế sự ghi chép lại sự việc người thật, việc thật (đây cũng là một dạng sử liệu đơn giản nhưng khá bổ ích đóng góp vào nguồn tư liệu nghiên cứu trong một xã hội còn hạn chế thông tin như ngày nay), VÈ lịch sử mô tả sự chân thật lịch sử trong đó có những cuộc khởi nghĩa của nông dân và đấu tranh chống ngoại xâm. Ngoài ra còn một thể loại nữa của VÈ (thứ này có số lượng bài khá nhiều) là VÈ về loài vật, cây trái, hoa quả, sự vật, nghề nghiệp: VÈ hoa, VÈ cá, VÈ bánh, VÈ làm ruộng…
Là loại hình văn học dân gian bổ ích nhiều bài VÈ đã được tập hợp và xuất bản thành sách nhưng cũng còn có nhiều bài hiện đang được lưu truyền rải rác trên các Blog và các trang mạng (nhất là loại VÈ thế sự, thời cuộc) trong đó nhiều bài gây ấn tượng và có giá trị bởi tính thời sự của nó. Có thể nói ngày nay “VÈ thế sự” đang lên ngôi. Ngồi nhớ lại tuổi thơ của mình, tôi lại được sống với nhiều bài VÈ đồng dao thật đáng yêu, hệt như cái tuổi lên 5 lên 3 cũng rất đáng yêu ấy. Nào là con vỏi con voi/ cái vòi đi trước/ hai chân trước đi trước/ hai chân sau đi sau/ còn cái đuôi đi sau rốt/ tôi xin kể nốt/ cái chuyện con voi”. Thế hệ của tôi ngày ấy đang thời đạn bom, cuộc sống vật chất rất nghèo khổ hầu như chẳng có đồ chơi gì đáng kể. Con gái thì chơi chuyền, chơi ô ăn quan, con trai thì đánh bi đánh đáo và cùng nhau chơi rồng rắn lên mây/ có cây lúc lắc/ có nhà điểm danh/ hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không ”? Cái ngày xưa yêu dấu ấy, trẻ em thích hát đồng dao, các bà nội trợ thích nói VÈ bánh, VÈ hoa, VÈ cá… những thứ rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người nông dân: Cá ăn không cử là cá trê leo/ ăn cám ăn bèo là con cá sặt/ gai chông gút mắc là con cá rô/ bóng bọt ra vô là con cá thia lia trống/ tuổi cao tác rộng là con cá bạc đầu/ nhỏ tác có râu là con cá chốt/ hình xem tươi tốt là con cá chai/ nối đuôi đi hoài là con cá lạc mạ/ hình xem cũng lạ là con cá lóc bông/ tánh hay ở bau là con cá chạch /ăn bèo lách chách là con cá mề tho/ ăn ở không lo là con cá hương mảnh/ da thịt trắng bảnh là con cá thác lác/ ăn bùn ăn cát là con cá kèo…”. Có lẽ những bài VÈ này hiện chỉ còn thấy trong sách vở và thời nay tôi thấy trẻ em không mấy thuộc đồng dao nữa.
Việt Nam là xứ nhiệt đới với nông nghiệp trồng lúa nước có từ ngàn xưa. Bài “VÈ làm ruộng” đã mô tả cuộc sống của người nông dân. Đọc bài VÈ 4 chữ này tôi lại thấy hiện về cuộc sống cơ cực, nghèo đói và lam lũ ấy: “ Nghe vẻ nghe ve/ nghe vè làm ruộng/  sắm trâu cùng xuổng/ sắm ách cùng cày/ đi vay tiền ngày/đi quơ tiền tháng/ sắm một cái phảng/ đáng giá năm quan/ trời cho mưa xuống/ nước nổi đầy đồng/ bớ chú đàn ông/ be bờ giao mạ…” VÈ làm ruộng và người nông dân suốt đời gắn bó với nhau để ngày hôm nay Việt Nam vượt lên Thái Lan trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hạng nhất thế giới với sản lượng xuất khẩu là 7 triệu tấn. Nhưng có nhiều dịp đi công tác ĐBSCL, vựa lúa của Việt Nam, tôi vẫn thấy cuộc sống của người nông dân nói chung là khá nghèo. Đây cũng là một nghịch lý.
Ngày trước dưới chế độ phong kiến, đặc biệt là từ TK 19 kể từ khi người Pháp chính thức đặt cai trị trên mảnh đất hình chữ S này, xã hội Việt nam có nhiều phân hóa, phong tục tập quán bị xáo trộn…nhiều bài VÈ ra đời phản ánh chân thực đời sống xã hội và cũng có nhiều bài VÈ góp phần vào công việc chấn hưng văn hóa dân tộc, giữ gìn đạo lý làm người, răn dậy người đời “đói cho sạch, rách cho thơm”. Bài VÈ “Án đồng tiền đồng bạc” với nội dung kiên quyết không thừa nhận nguyên tắc “có tiền mua tiên cũng được” và bài VÈ cũng lên án quyền lực tàn nhẫn của đồng tiền: “Làm cho thiên hạ đeo phiền/ buồn hiu quân tử, điếng điên anh hùng/ làm cho lỗi thủa đạo nhà/ năm giềng ba mối chẳng hòa vì ai/ làm cho người trí phải mê/ người điên cũng tỉnh nhiều bề tân oan/ làm cho son phấn đổi mầu/ khó nghèo nỡ phụ sang giàu a dua/ hư người thục nữ cũng hung/ đành đem má phấn chôn bùn vì ai ”.
Cùng với thể loại này, các bài VÈ phê phán đáng chú ý có:
VÈ đánh bạc: Nghe vẻ nghe ve/ nghe vè đánh bạc/ đầu hôm xao xác/bạc tốt như tiên/ đến khuya không tiền/ bạc như chím cú/ cái đầu sù sụ/ con mắt trỏm lơ/ hình đi phất phơ/ như con chó đói/ chân đi cà khói/ dạo xóm dạo làng/ quần rách lang thang/ lồng tay mà túm ”.
VÈ uống rượu: “Uống một ly nhâm nhi tình bạn/ uống hai ly giải hạn cơn sầu/ uống ba ly mũi chảy đầy râu/ uống bốn ly ngồi đâu nói đó/ uống năm ly cho chó ăn chè/ uống sáu ly ai nói nấy nghe/ uống bảy ly làm xe lội nước/ uống tám ly chân bước, chân quỳ/ uống chín ly còn gì mà kể/ uống mười ly khiêng để xuống xuồng ”.
VÈ chửa hoang: “ Xem thử nó giống ai/ cái đầu nó giống ông cai/ cái lưng ông xã, cái vai ông trùm ”. Hay: “Thôi thôi ví lỡ ra rồi/ bồng con ra ngồi con thử giống ai?/ cái mặt thì giống Tuần Hai/ cái vai Tư Chống/ xương sống Biện tài/ chưn mày giống Tám Ít/ cái đít giống Bầu Khuê/ cái đề giống Tư Đủi/ cái lỗ mũi giống Tư Nghiêm/ cái đầu giống Ba Phó/ cái chứng ngó giống Mười Trương ”.
Bên cạnh những bài VÈ khen, chê hay mô tả, các bài VÈ thế sự đã phát huy mạnh mẽ nhất lọai hình báo chí truyền miệng này. Người đời sau chúng ta hôm nay phần nào hiểu được thân phận người dân dưới chế độ phong kiến (ngoài những truyện ngắn, tiểu thuyết, bài viết trên báo chí xưa) là những bài VÈ thế sự như: VÈ con cút, VÈ lỡ thời, VÈ lễ tết quan…Đọc những câu VÈ sau đây ta thấy cái “phong tục” này nó cũng mang đậm tính truyền thống và có sức sống mãnh liệt nếu như liên hệ với thời nay: Sáp vàng hai bánh/ yến huyết một cân/ mứt bí mứt gừng/ trà Tàu trà Huế/ mứt chanh mứt khế/ cam rim hồng rim/ nhãn nhục táo kim/ đường phổi đường đá/ tôm khô vi cá/ đồn đột gân nai/ bột báng bột khoai/ dầu thông nấm mối/ cà cuống trứng sam/ bạch hương kỳ nam/ thuốc Tàu á phiện/ khô voi bò niển/ vịt nước le le/ ba ba cần đước/ tôi đà sắm trước/ đem tới ông Hy/ chẳng thiếu vật chi/ để mừng công tử ”. Ở bài VÈ này, có lẽ nhiều sản vật xưa nay không còn nữa và nếu còn cũng rất hiếm. Ngay cả nhiều danh từ cũng phải tra cứu mới hiểu nghĩa (chẳng hạn như “đồn đột” là một loại đỉa biển…).
Dân gian vẫn thường nói: “Một người làm quan cả họ được nhờ ”. Cái “truyền thống” này kéo dài suốt từ thời phong kiến cho đến tận ngày nay. Các ông quan của TK 21 này tuy không còn ăn “gân nai’, “đồn đột”, “khô voi”, “bò niển” nhưng các ông lại “ăn” được dự án, hoa hồng, công trình, quy hoạch…và thế là VÈ quan tham của TK 21 cũng rất đặc sắc khi mô tả các ông quan tham hết cả mọi đường: Thói đâu có thói lạ lùng/ quan chức tham nhũng tận cùng cả danh/ địa vị, ngôi cao quan tranh/ ăn thì tranh cả cá ranh của làng/ bao giờ đến lượt đồng bào/ công, nông thực chất được “xào” chút danh/ chẳng qua để bớt hôi tanh/ cái sự ăn cướp, “tớ” hành chủ dân”.
Ở bất kỳ thời đại nào VÈ thế sự cũng luôn luôn phát huy vai trò vạch mặt, tố cáo, phê phán, vạch trần tội ác phi nhân của những bậc quyền chức không hề tránh né. Sau đây là những bài tiêu biểu của thời đại hôm nay:
VÈ thầy giáo cưỡng dâm học trò: Có thầy hiệu trưởng họ Sầm/ cầm đầu tổ chức bán dâm học trò/ khách hàng toàn những quan to/ có cả chủ tịch Trường Tô tỉnh mình/ năm đồng một lượt bán trinh/ ba đồng một cú làm tình “con heo”/ quê ta xứ núi tỉnh nghèo/ các em phải chịu giá bèo vậy thôi / phận hèn bèo dạt mây trôi/ các em bị chúng nó lôi ra tòa/ quan lớn, quan bé nó tha/ để giữ uy tín đảng ta cầm quyền ”.
VÈ tố cáo quan tham: Liêm đéo liêm, Hiền đéo hiền/ chân khệnh khạng mắt láo liên/ đội trên đạp dưới loài sâu bọ/ mặt sắt nhơn nhơn nhẵn như tiền ”.
VÈ chống Tàu bành trướng: “Nhà nước này là thuộc nước nào?/ “tuyên truyền chống giặc” bắt vì sao?/ ngàn năm uất hận quân Nam Hán/ muôn thủa bầm gan lũ giặc Tàu/ phủ chúa sớm quên “bài học Đặng”/ cung vua làu thuộc “sách ông Mao”/ bắt người chống giặc vì dân, nước/ nhà nước bây giờ của “nước” nao?
VÈ dân oan: Nếu không có bom Vươn/ ác bá chẳng về vườn/ bọn bất nhân bó rọ/ cường hào bớt nhiễu nhương/ nếu không có bom Vươn/ chính sách cướp ruộng nương/ vẫn triển khai độc đảng/ năm châu khó tỏ tường/ nếu không có bom Vươn/ dân oan vẫn nhún nhường/ kéo nhau đi khiếu kiện/ ngồi vật vã bên đường/ nếu không có bom Vươn/ công an đỏ khinh thường/ khủng bố dân tư sản/ bốn biển cũng nan nường ”.
Đọc những bài VÈ trên đây, chúng ta nhìn thấy hình ảnh một xã hội Việt Nam đạo lý suy đồi (chuyện khó tin nhưng lại có thật), pháp luật bị chà đạp, người dân bị ức hiếp (kể cả khi họ lên tiếng bảo vệ tổ quốc). Đau đớn biết bao khi chúng ta phải chứng kiến những phiên tòa bất chấp công lý để những người con yêu nước Việt cứ lần lượt dắt tay nhau vào tù. Những: Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cầy), Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình…và gần đây em sinh viên Nguyễn Phương Uyên bị an ninh bí mật bắt đi (và hiện đang bị giam giữ) vì làm thơ chống Trung Quốc. Nhưng tôi tin những người công dân Việt nam sẽ vẫn còn dám bước tiếp trên con đường giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ này.
Như chúng ta đã thấy,VÈ không chỉ mang chức năng khen chê, mô tả sự vật…có tính giải trí hài hước. VÈ cũng là để giáo huấn và cảnh tỉnh con người. Nó cũng giống như liều thuốc khi ta đau ốm. Nhiều bài VÈ còn là sản phẩm của trí tuệ, đọc lên cười đấy nhưng là “cười ra nước mắt ” vì thấy sao nó chua xót và cay đắng quá. Nhiều người vẫn thường tự hỏi mình, tại sao sống trong thời bình mà vẫn cảm thấy bất an? Nhiều người bảo đó là “lỗi hệ thống”. Cách đây hơn ba thập kỷ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã sớm trăn trở: Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/ câu trả lời thật không dễ dàng chi… ”. Để xóa đi cái “lỗi hệ thống” này, ngẫm nghĩ cho kỹ ta thấy câu nói của TS Phạm Ngọc Cương thật chí lý: “Cần chuyển gấp một xã hội từ phong bao, xí chỗ, bảo kê quyền lợi, quỳ gối… tới một xã hội mà mỗi người để tồn tại và khẳng định luôn cần vươn vai, cọ xát và đào luyện, xiển dương tổng năng lực thực của mình trong sân chơi công bằng. Có vậy mới mong trời mỗi ngày một sáng ”. Vâng, nếu được như vậy thì những bài VÈ mô tả những thứ xấu xa vô đạo đức và vô pháp luật kia sẽ không còn đất sống để “những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa” và nhân dân Việt Nam mới thực sự được “độc lập, tự do, hạnh phúc”.

Khánh Trâm  (Blog Nguyễn Trọng Tạo)