Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

DỰ THẢO HIẾN PHÁP sửa đổi (CVK st)

 

 



Dự thảo được đăng tải để lấy ý kiến nhân dân từ ngày 2-1-2013 đến ngày 31-03-2013


HIẾN PHÁP 
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 
NĂM 1992 (SỬA ĐỔI NĂM 2013)
  

CHƯƠNG I:                               LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Với khát vọng độc lập, tự do, bằng tinh thần tự lực, tự cường, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và làm nghĩa vụ quốc tế; xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. 

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân  Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước. 

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; thực hiện công bằng xã hội; tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam, với truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, xây dựng và thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

CHƯƠNG I
CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 1)


Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2 (sửa đổi, bổ sung Điều 2)


Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 3)

Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)


1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 

3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 5 (sửa đổi, bổ sung Điều 5)


1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình. 

4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, hoà nhập vào sự phát triển chung của  đất nước.

Điều 6 (sửa đổi, bổ sung Điều 6)


Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. 

Điều 7 (sửa đổi, bổ sung Điều 7) 


1. Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

2. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.  

Điều 8 (sửa đổi, bổ sung Điều 8)


1. Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Nền hành chính quốc gia, chế độ công vụ được tổ chức và hoàn thiện để phục vụ nhân dân. Cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; chống tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 

3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phòng, chống các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Điều 9 (sửa đổi, bổ sung Điều 9)


1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức. 

3. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.

Điều 10 (sửa đổi, bổ sung Điều 10)


Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 11 (sửa đổi, bổ sung Điều 13)


1. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

2. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị theo pháp luật.

Điều 12 (sửa đổi, bổ sung Điều 14)


Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Điều 13 (ghép và giữ nguyên các điều 141, 142, 143, sửa đổi, bổ sung Điều 145)


1. Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

2. Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài “Tiến quân ca”.

4. Ngày Quốc khánh là Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945.  

Điều 14 (giữ nguyên Điều 144)


Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội. 

CHƯƠNG II
QUYỀN CON NGƯỜI,
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN


Điều 15 (sửa đổi, bổ sung Điều 50)


1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 16 (mới)


1. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.

2. Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Điều 17 (sửa đổi, bổ sung Điều 52)


1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Điều 18 (sửa đổi, bổ sung Điều 49)


1. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. 

2. Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giao nộp cho Nhà nước khác.

3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài. 

Điều 19 (sửa đổi, bổ sung Điều 75)


1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

2. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 51)


1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. 

2. Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

3. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội. 

Điều 21 (mới)


Mọi người có quyền sống.

Điều 22 (sửa đổi, bổ sung Điều 71)


1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

2. Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của con người.

3. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm khác trên cơ thể người phải được người đó đồng ý.

Điều 23 (sửa đổi, bổ sung Điều 73)


1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổ biến thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác nếu không được người đó đồng ý.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. 

Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác do pháp luật quy định. 

Điều 24 (giữ nguyên Điều 68)


Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

Điều 25 (sửa đổi, bổ sung Điều 70)


1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Điều 26 (sửa đổi, bổ sung Điều 69)


Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. 

Điều 27 (sửa đổi, bổ sung Điều 63)


1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới.

Điều 28 (sửa đổi, bổ sung Điều 54)


Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.

Điều 29 (sửa đổi, bổ sung Điều 53)


1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của địa phương và cả nước.

2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Điều 30 (sửa đổi, bổ sung Điều 53)


Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. 

Điều 31 (sửa đổi, bổ sung Điều 74) 


1. Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Điều 32 (sửa đổi, bổ sung Điều 72)


1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm.

3. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử có quyền sử dụng trợ giúp pháp lý của người bào chữa.

4. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.

Điều 33 (sửa đổi, bổ sung Điều 58)  


1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 57 và Điều 58.

2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. 

Điều 34 (sửa đổi, bổ sung Điều 57)


1. Mọi người có quyền tự do kinh doanh. 

2. Nhà nước bảo hộ quyền tự do kinh doanh. 

Điều 35 (sửa đổi, bổ sung Điều 67)


Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội. 

Điều 36 (sửa đổi, bổ sung Điều 62) 


1. Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.

2. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để công dân có nơi ở.

Điều 37 (sửa đổi, bổ sung Điều 73)


1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở hợp pháp.

2. Không ai được tự ý vào chỗ ở hợp pháp của người khác nếu không được người đó đồng ý.

Việc khám xét chỗ ở do luật định.

Điều 38 (sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56)


1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn việc làm, nghề nghiệp và nơi làm việc.

2. Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng người lao động chưa thành niên trái pháp luật.

Điều 39 (sửa đổi, bổ sung Điều 64)


1. Nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.

2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Điều 40 (sửa đổi, bổ sung Điều 65)


1. Trẻ em có quyền được gia đình, nhà trường, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. 

2. Nghiêm cấm hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.

Điều 41 (sửa đổi, bổ sung Điều 39, Điều 61)


1. Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe; bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh.

2. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa đến cuộc sống và sức khỏe của người khác và cộng đồng.

Điều 42 (sửa đổi, bổ sung Điều 59)


Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập.

Điều 43 (sửa đổi, bổ sung Điều 60)


1. Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; sáng tạo văn học, nghệ thuật. 

2. Quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước bảo hộ.

Điều 44 (mới)


Mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa.

Điều 45 (mới)


Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.

Điều 46 (mới) 


1. Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành.

2. Mọi người có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.  

Điều 47 (sửa đổi, bổ sung Điều 76)


Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Điều 48 (sửa đổi, bổ sung Điều 77)


Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân; việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định.

Điều 49 (sửa đổi, bổ sung Điều 79)


Công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

Điều 50 (sửa đổi, bổ sung Điều 80)


Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế. 

Điều 51 (giữ nguyên Điều 81)


Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

Điều 52 (giữ nguyên Điều 82)


Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

CHƯƠNG III
KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, GIÁO DỤC,
KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG


Điều 53 (sửa đổi, bổ sung Điều 15, Điều 43)


Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ, hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. 

Điều 54 (sửa đổi, bổ sung các điều 15, 16, 19, 20, 21 và 25)


1. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. 

2. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Điều 55 (sửa đổi, bổ sung Điều 24, Điều 26)


1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường; thực hiện sự phân công, phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm phát triển hợp lý, hài hòa giữa các vùng, địa phương và tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.

2. Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức hợp tác kinh tế với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và cùng có lợi, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế.

Điều 56 (sửa đổi, bổ sung các điều 22, 23 và 25)


1. Tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật.

2. Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh. 

 3. Tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận, bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, tổ chức theo giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Điều 57 (sửa đổi, bổ sung Điều 17, Điều 18)


Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật.

Điều 58 (sửa đổi, bổ sung Điều 18)


1. Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo quy hoạch và pháp luật. 

2. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Người sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích; được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất là quyền tài sản được pháp luật bảo hộ. 

3. Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội. 

Điều 59 (mới)


1. Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác được Nhà nước thống nhất quản lý, sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. 

2. Ngân sách nhà nước là thống nhất gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Thu chi ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 60 (sửa đổi, bổ sung Điều 27)


Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí, tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước.

Điều 61 (sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56)


1. Tổ chức, cá nhân được khuyến khích, tạo điều kiện để tạo việc làm, có thu nhập thỏa đáng cho người lao động.

2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

Điều 62 (sửa đổi, bổ sung Điều 39, Điều 40)


1. Nhà nước ban hành chính sách đầu tư, phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân; huy động các nguồn lực để xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, hiệu quả; phát triển nền y học Việt Nam theo hướng kết hợp đông y và tây y, phòng bệnh và chữa bệnh; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân và tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe; ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi, hải đảo, dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.

2. Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, bảo đảm quy mô, cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số.

Điều 63 (sửa đổi, bổ sung Điều 67)


1. Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ, công bằng, bền vững, trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn.

2. Nhà nước và xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với nước.

Điều 64 (sửa đổi, bổ sung các điều 30, 31, 32, 33 và 34)


1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển của đất nước. Nhà nước và xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nhân văn, dân chủ, tiến bộ; bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. 

2. Phát triển văn học, nghệ thuật đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân, góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn của người Việt Nam; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. 

3. Xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có văn hóa, có ý thức làm chủ, có trách nhiệm công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

4. Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy; mê tín, dị đoan. 

Điều 65 (sửa đổi, bổ sung Điều 35, Điều 37)


Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.

Điều 66 (sửa đổi, bổ sung Điều 35, Điều 36)


1. Phát triển giáo dục nhằm hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân; nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đào tạo người lao động có nghề, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

2. Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân, ưu tiên đầu tư và tạo điều kiện thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn khác.  

3. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Người khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học văn hoá và học nghề phù hợp.

Điều 67 (sửa đổi, bổ sung Điều 37, Điều 38)


1. Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm nâng cao trình độ quản lý, phát triển văn hóa, kinh tế tri thức, thúc đẩy tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và sức khỏe của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh. 

2. Nhà nước thúc đẩy phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học và công nghệ; đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ; bảo đảm quyền tự do nghiên cứu và sáng tạo khoa học, công nghệ.

3. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và được hưởng thụ lợi ích từ các hoạt động khoa học, công nghệ. 

Điều 68 (mới)


1. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và là nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. 

2. Nhà nước có cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch của tổ chức, cá nhân được Nhà nước khuyến khích.  

3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.

CHƯƠNG IV
BẢO VỆ TỔ QUỐC


Điều 69 (sửa đổi, bổ sung Điều 44)


Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.

Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định.

Điều 70 (sửa đổi, bổ sung Điều 45)


Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Điều 71 (sửa đổi, bổ sung Điều 46)    


Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ được xây dựng hùng hậu, rộng khắp, cùng với Quân đội nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. 

Điều 72 (sửa đổi, bổ sung Điều 47)


Công an nhân dân Việt Nam cách mạng được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Điều 73 (giữ nguyên Điều 48)


Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân; thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội; xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sỹ, công nhân, nhân viên quốc phòng; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

CHƯƠNG V
QUỐC HỘI


Điều 74 (sửa đổi, bổ sung Điều 83)


Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Điều 75 (sửa đổi, bổ sung Điều 84)


Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; 

2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập; 

3. Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định nguyên tắc phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách trung ương; xem xét báo cáo tổng hợp dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước;

5. Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập;  

7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, các Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, danh sách thành viên Hội đồng Hiến pháp, Hội đồng bầu cử quốc gia; 

8. Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;

9. Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật; 

10. Bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; 

11. Quyết định đại xá;

12. Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

13. Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

14. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế về chiến tranh và hòa bình, các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực, thương mại quốc tế; 

15. Quyết định trưng cầu ý dân.

Điều 76 (sửa đổi, bổ sung Điều 85)


1. Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm. 

2. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.

3. Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp chiến tranh.

Điều 77 (sửa đổi, bổ sung Điều 92)


Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.

Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.

Điều 78 (sửa đổi, bổ sung Điều 90)


1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên. 

3. Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

4. Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới.

Điều 79 (sửa đổi, bổ sung Điều 91)


Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; 

2. Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

3. Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước;

4. Đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

5. Lãnh đạo công tác của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;

6. Hướng dẫn và giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân; 

7. Quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

8. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất; 

9. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

10. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

11. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Điều 80 (sửa đổi, bổ sung Điều 94)


1. Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Chủ tịch Hội đồng dân tộc do Quốc hội bầu; các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng dân tộc do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.  

2. Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc. 

4. Hội đồng dân tộc có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 81. 

Điều 81 (sửa đổi, bổ sung Điều 95)


1. Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Chủ nhiệm Ủy ban do Quốc hội bầu; các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.  

2. Ủy ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật và dự án khác, báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban.

3. Việc thành lập, giải thể các Ủy ban do Quốc hội quyết định.  

Điều 82 (sửa đổi, bổ sung Điều 96)


1. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin hoặc giải trình.  

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời kiến nghị của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, báo cáo hoặc giải trình về các vấn đề mà Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội yêu cầu.  

Điều 83 (mới)


Khi cần thiết, Quốc hội thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.

Điều 84 (sửa đổi, bổ sung Điều 97)


1. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và của nhân dân ở đơn vị bầu đại biểu.  

2. Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó.

3. Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật.  

Điều 85 (sửa đổi, bổ sung Điều 98)


1. Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

2. Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp hoặc tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần thiết Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.

3. Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.

Điều 86 (sửa đổi, bổ sung Điều 99) 


Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội; nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Điều 87 (sửa đổi, bổ sung Điều 100)


1. Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu; có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.

2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.

3. Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Điều 88 (sửa đổi, bổ sung Điều 86)


1. Quốc hội họp công khai. Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.

2. Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường. Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập kỳ họp Quốc hội.

3. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Điều 89 (sửa đổi, bổ sung Điều 87)


1. Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội.

2. Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật trước Quốc hội.

Điều 90 (sửa đổi, bổ sung Điều 88, Điều 93)


1. Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ trường hợp Hiến pháp quy định phải có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.

2. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua.

CHƯƠNG VI
CHỦ TỊCH NƯỚC


Điều 91 (giữ nguyên Điều 101)


Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

Điều 92 (giữ nguyên Điều 102)


Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới. 

Điều 93 (sửa đổi, bổ sung Điều 103)


Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; 

3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;  

4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam; 

5. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp tướng trong các lực lượng vũ trang nhân dân, đô đốc, phó đô đốc, chuẩn đô đốc hải quân; bổ nhiệm Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh. Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

6. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 75; quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế theo thẩm quyền do Quốc hội quy định.  

Điều 94 (sửa đổi, bổ sung Điều 104)


1. Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước trình Quốc hội phê chuẩn.  

Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

2. Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội, trong trường hợp Quốc hội không thể họp được trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh; động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt trong trường hợp có chiến tranh do Quốc hội giao.

Điều 95 (sửa đổi, bổ sung Điều 105)  


Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Chính phủ.

Khi cần thiết, Chủ tịch nước yêu cầu Chính phủ họp bàn về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước.

Điều 96 (giữ nguyên Điều 106)


Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 97 (giữ nguyên Điều 107)


Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ.

Điều 98 (giữ nguyên Điều 108)


Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.

Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

CHƯƠNG VII
CHÍNH PHỦ


Điều 99 (sửa đổi, bổ sung Điều 109)


Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. 

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Điều 100 (sửa đổi, bổ sung Điều 110)


Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. 

Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định.

Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.  

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. 

Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Chính phủ, Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ.

Điều 101 (sửa đổi, bổ sung Điều 112)


Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

2. Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia, xây dựng và tổ chức thực hiện chế độ công vụ; quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức; phân công, phân cấp trong hệ thống hành chính nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính các đơn vị hành chính lãnh thổ; tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo; 

3. Bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; 

4. Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước;

5. Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; 

6. Thống nhất quản lý về quốc phòng, an ninh, nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

7. Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; theo ủy quyền của Chủ tịch nước đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 93; đàm phán, ký, gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

8. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.  

Điều 102 (giữ nguyên Điều 113)


Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ mới.

Điều 103 (sửa đổi, bổ sung Điều 114)


Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, là người đứng đầu Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Định hướng, điều hành hoạt động của Chính phủ; lãnh đạo hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia; 

2. Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng và chức vụ tương đương trong các cơ quan của Chính phủ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

3. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

4. Chỉ đạo việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước, đàm phán, ký hoặc gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

5. Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. 

Điều 104 (sửa đổi, bổ sung Điều 116, Điều 117)


1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công.  

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân về những vấn đề quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý. 

Điều 105 (sửa đổi Điều 115, Điều 116)


Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của luật và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.  

Điều 106 (sửa đổi, bổ sung Điều 111)


Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội được mời tham dự phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

CHƯƠNG VIII
TÒA ÁN NHÂN DÂN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN


Điều 107 (sửa đổi, bổ sung Điều 126, Điều 127)  


1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.

2. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.   

3. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

Điều 108 (sửa đổi, bổ sung các điều 129, 130, 131, 132 và 133)


1. Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp do luật định. 

2. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.

3. Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.

4. Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp do luật định.

5. Nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa được bảo đảm.

6. Chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm được bảo đảm.

7. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm. Bị can, bị cáo có thể tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; đương sự có thể tự mình, nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ lợi ích hợp pháp.

Điều 109 (sửa đổi, bổ sung Điều 134) 


1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

2. Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác.  

3. Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Điều 110 (sửa đổi, bổ sung Điều 128, Điều 135) 


1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án khác do luật định. 

2. Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Chánh án các Tòa án khác báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân theo quy định của luật. 

3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán; việc bầu và nhiệm kỳ của Hội thẩm Tòa án nhân dân do luật định.

Điều 111 (sửa đổi, bổ sung Điều 136) 


Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Điều 112 (sửa đổi, bổ sung Điều 126, Điều 137)


1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.  

2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.

3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, quyền con người, quyền công dân; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Điều 113 (sửa đổi, bổ sung các điều 138, 139, 140)


1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc bổ nhiệm, nhiệm kỳ của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định. 

2. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng các Viện kiểm sát khác báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân theo quy định của luật. 

Điều 114 (sửa đổi, bổ sung Điều 138)


1. Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.

3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Kiểm sát viên do luật định.  

CHƯƠNG IX
CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG


Điều 115 (sửa đổi, bổ sung Điều 118)


1. Các đơn vị hành chính lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường, xã; quận chia thành phường.

2. Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính lãnh thổ do luật định phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính lãnh thổ và phân cấp quản lý.

Điều 116 (sửa đổi, bổ sung các điều 119, 120, 123 và 124)


1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước tại địa phương. 

2. Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.  

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ủy ban nhân dân và chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

Điều 117 (sửa đổi, bổ sung Điều 121)


Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

Điều 118 (sửa đổi, bổ sung Điều 122)


Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân hoặc trả lời bằng văn bản. 

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước ở địa phương. Người đứng đầu cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.

Điều 119 (sửa đổi, bổ sung Điều 125)


Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương được mời tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

CHƯƠNG X
HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP, HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA,
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC


Điều 120 (mới)


1. Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. 

2. Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng Hiến pháp và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng Hiến pháp do luật định.

Điều 121 (mới)


1. Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên.

2. Hội đồng bầu cử quốc gia tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.  

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định.

Điều 122 (mới)


1. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

2. Tổng Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước do luật định.

 Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. 

3. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Kiểm toán Nhà nước do luật định. 

CHƯƠNG XI
HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP


Điều 123 (sửa đổi, bổ sung Điều 146)


Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.  

Điều 124 (sửa đổi, bổ sung Điều 147)

Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp được quy định như sau:

1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành;

2. Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định;  

3. Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân và trình Quốc hội về dự thảo Hiến pháp;  

4. Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định.  



Mời các Bác theo đường link:
Dự thảo online

 

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ (hết)

Đầu năm nói chuyện "chết chóc"  thì  không hay. Nhưng vì câu chuyện đang dang dở; mặt khác người Việt Nam có câu "sinh dữ, tử lành" và đây lại là cái chết của "Hoàng đế đỏ" nên người sưu tầm vẫn mạnh dạn Post lên K13toan6872

Cay Rademacher
Phan Ba dịch

Thứ tư, ngày 6 tháng 10, Trung Nam Hải. Giang Thanh và ba người trung thành nhất với bà ấy trong Bộ Chính trị – Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn – được Hoa Quốc Phong triệu tập vào gian sảnh Huairen vào lúc 20 giờ. Người ta nêu lý do là sẽ có một cuộc họp của Bộ Chính trị để bàn về việc xuất bản quyển thứ năm của Mao Toàn tập.
Thực ra đấy là một cái bẫy.
Sau cái chết của Mao, phần lớn thành viên của Bộ Chính trị đã vứt bỏ sự tôn trọng Giang Thanh một cách mù quáng và ít nhiều đều thể hiện sự coi thường bà ấy. Người vợ của viên Chủ tịch cảm nhận được rằng bà ấy nhanh chóng mất đi ảnh hưởng. Lúc trước, các vụ việc tước quyền, bắt bớ và xử tử do bà ấy yêu cầu chỉ được tiến hành vì có những tổ chức do Mao ủy quyền, ví dụ như Hồng Vệ Binh của Cách mạng Văn hóa, đội thực hiện các khẩu hiệu của Giang Thanh một cách tận tâm. Thế nhưng bây giờ Hồng Vệ Binh đã bị đày về vùng nông thôn và cảnh sát thì do Hoa Quốc Phong kiểm soát.
“Quyền lực chính trị đến từ nòng súng!” Tất cả các quan chức cao cấp mà ngoài ra thì thù địch với nhau đều đồng ý với câu nói nổi tiếng đấy của Mao. Câu hỏi chỉ là: từ những nòng súng của ai?
Hay chính xác hơn: ai có thể bắt giam ai trước hết?
Giang Thanh và những người theo bà hy vọng trước hết là ở lực lượng dân quân: một tổ chức bán quân sự có tròn 100 triệu nam nữ – công nhân, nông dân, nhân viên, sinh viên –, những người mà ĐCS có thể động viên vào bất cứ lúc nào. Thế nhưng không thể tổ chức lẫn trang bị vũ khí một cách đàng hoàng cho một đạo quân 100 triệu người trong một thời gian ngắn được.
Hoa Quốc Phong và người sếp an ninh thì ngược lại dựa trên 3,5 triệu người lính của quân đội chính quy. Họ thố lộ kế hoạch của họ cho người nguyên soái già Diệp Kiếm Anh, mắc chứng bệnh Parkinson, nhưng được kính trọng cả ở trong lẫn ngoài quân đội. Người quân nhân già nua, cũng là thành viên của Bộ Chính trị, đồng ý.
Vào tối đó, Hoa Quốc Phong và người nguyên soái già chờ đợi nạn nhân của họ, trong khi Uông Đông Hưng với những người lính được lựa chọn từ quân đoàn 8341 của ông ấy ẩn nấp.
Trương Xuân Kiều vào điện Huairen đầu tiên. Cận vệ và thư ký của ông ấy bị viện cớ tách ra, rồi người ta bắt ông ấy trong gian phòng của Bộ Chính trị. Ông ấy không chống cự.
Vương Hồng Văn đến vài phút sau đó, phản đối, khi nhìn thấy những người lính, tuyệt vọng chống cự không lâu, rồi sự phản kháng của ông ấy cũng bị bẽ gãy, cả về thân thể lẫn tinh thần. Ông ấy để mặc cho dẫn đi.
Nhưng Giang Thanh và Diêu Văn Nguyên không đến. Không ai trong những người âm mưu biết được họ đang làm gì trong khoảng khắc đấy. Họ đã được cảnh báo trước? Họ cũng chuẩn bị lật đổ về phía họ?
Hoa Quốc Phong căng thẳng chờ cho tới 22 giờ, rồi ông ấy gửi lính của đoàn 8341 đến nhà của hai người đó. Những người đàn ông bao quanh nhà, xông vào – và hoàn toàn không gặp sự chống cự.
“Tôi đã tiên đoán trước cái ngày này từ lâu rồi”, Giang Thanh nói, mặc dù bà ấy bị bất ngờ cho tới mức bị bắt từ trên giường.
Vào thời gian đó tại những địa điểm khác trong Bắc Kinh, các đơn vị đặc nhiệm bắt giữ 30 đến 40 cán bộ ĐCS cao cấp khác, trong đó có cháu trai của Mao. Chiến dịch trong đêm đó, mà nạn nhân là toàn bộ chóp bu phe tả cực đoan của Đảng, bí mật cho tới mức ngay đến các thành viên khác của Bộ Chính trị cũng không biết gì về việc đấy.

Những người Mao–ít cực đoan đã thất bại trong cuộc tranh giành quyền lực chống lại Hoa Quốc Phong trung hòa hơn, người lôi kéo được quân đội về phía mình. Tất cả họ đều lĩnh những bản án nặng, người vợ góa của Mao tự tử năm 1991. Ảnh: GEO Epoche
Những người Mao–ít cực đoan đã thất bại trong cuộc tranh giành quyền lực chống lại Hoa Quốc Phong trung hòa hơn, người lôi kéo được quân đội về phía mình. Tất cả họ đều lĩnh những bản án nặng, người vợ góa của Mao tự tử năm 1991. Ảnh: GEO Epoche
Đấy không chỉ là đỉnh cao của một cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng. Lần bắt bớ bí mật, tàn bạo và hiệu quả này quyết định số phận của gần một tỉ người, vâng, có thể là của cả Trái đất.
Nếu Giang Thanh và phái cánh tả cực đoan của bà ấy thắng thế, thì điều đấy có thể sẽ dẫn đến một tái bản của cuộc Cách mạng Văn hóa và qua đó là đến nội chiến – với những hậu quả không thể đoán trước được cho các nước khác, vì cuối cùng thì Trung Quốc cũng là một cường quốc nguyên tử.
Vào sáng hôm sau, các thành viên của Bộ Chính trị bất ngờ bị Hoa Quốc Phong đặt trước những sự việc đã rồi, và họ đủ khôn ngoan để đồng ý mà không chống đối. Vì ai trong số họ cũng đều biết rằng nếu không thì họ có thể sẽ bị bắt. Trong những ngày sau đó, giới công khai từng bước biết được vụ lật đổ – Hoa Quốc Phong củng cố quyền lực của mình càng tốt thì ông ấy càng để cho truyền ra ngoài nhiều hơn.
Đầu tiên, Đảng loan báo ngắn gọn vào ngày 8 tháng 10, rằng Hoa Quốc Phong đã nhận lấy trách nhiệm xuất bản bộ Mao Toàn tập. Điều đọc giống như là một ghi chú, nhiều nhất là chỉ đáng để cho các nhà ngữ văn quan tâm đến, trong thực tế có nghĩa là từ bây giờ Hoa chứ không phải Giang Thanh sẽ giảng giải các tác phẩm của Mao và qua đó có thể sử dụng những từ ngữ của người Chủ tịch được xem như thượng đế vào trong cuộc đấu tranh chính trị.
Vào ngày 9 tháng 10, một tờ báo tường ở Bắc Kinh lần đầu tiên gọi Hoa là “Chủ tịch Quân ủy” và của Trung ương Đảng – mặc dù TƯ còn chưa hề họp lại và thật ra là phải bổ nhiệm ông ấy đã.
Ngày sau đó – một ngày chủ nhật – có tin đồn về những vụ bắt bớ các quan chức cao cấp, những tờ báo lớn cảnh báo một cách mơ hồ về “Chủ nghĩa Xét lại và Ly khai.” Vào ngày 11 tháng 10, đại diện ngoại giao do an ninh Trung Quốc lựa chọn ra bắt đầu được phép đưa cho nhân viên của các đại sứ quán Phương Tây những thông tin không chính thức về vụ lật đổ đấy. Khi có những tờ báo tường ủng hộ Giang Thanh xuất hiện ở Thượng Hải, chúng bị nhanh chóng xé xuống. Cảnh sát và quân đội hiện diện nhiều hơn là bình thường.
Vào ngày 13 tháng 10, tất cả các hình ảnh của Giang Thanh đều biến mất ra khỏi các cửa hiệu của Bắc Kinh, thông tấn xã nhà nước Tân Hoa Xã không đưa ra ảnh của bà ấy nữa. Đài phát thanh Bắc Kinh bất ngờ tường thuật về một vụ việc mờ ám từ năm 1935 mà trong đó Mao nhờ vào quân đội để chống lại những kẻ lầm đường trong Đảng.
Vào ngày 15 tháng 10, ở Bắc Kinh và Vũ Hán xuất hiện những tờ báo tường tố cáo Giang Thanh và những người theo bà ấy đã dự định ám sát Hoa Quốc Phong cũng như âm mưu đảo chính. Một chiến dịch kích động chưa từng có bắt đầu, cả trong truyền hình và trong tất cả các tờ báo lớn (khắp nơi đều có tổng biên tập mới).
Từ ngữ “Tứ Nhân Bang” [Bè lũ bốn tên] ám chỉ Giang Thanh và những người đồng minh thân cận nhất của bà ấy trong Bộ Chính trị (được Mao sử dụng lần đầu tiên năm 1975 trong một lá thư mật) xuất hiện trong giới công khai.
Bốn người bị bắt giữ này – và cả sau khi chiến dịch bắt đầu cũng không công khai biết được điều gì về số phận của họ cả – trong lúc đó đang ngồi trong phòng biệt giam ở khu “19 tháng 5″, một công sự khổng lồ dưới Thiên An Môn.
Khu bí mật khổng lồ này có nhiệm vụ tiếp nhận các quan chức chóp bu và giới quân đội cao cấp trong trường hợp xảy ra chiến tranh nguyên tử, thế nhưng bây giờ thì các tù nhân chính trị nổi tiếng nhất của Trung Quốc đang bị bắt giam ở đó – điều mỉa mai là chỉ cách Mao có vài mét. Xác chết ông ấy sau tuần lễ trưng bày công khai đã được bí mật mang vào bệnh viện của công sự, nơi bây giờ nó được xử lý nhiều tháng trời.
Thứ hai, ngày 18 tháng 10, Thượng Hải. Các ngôi nhà phô trương cạnh con đường đi dạo dọc theo sông, các ngân hàng, khách sạn và câu lạc bộ xưa cũ, bây giờ đã xuống cấp. Vữa bong ra từ những mặt tiền Tân Hy Lạp, cửa sổ giả kiểu thành Tudor bị đóng kín bằng ván. Và tuy vậy, thành phố lớn mười một triệu dân này vẫn còn là trung tâm công nghiệp và thương mại của Trung Quốc –– và thành trì của Tứ Nhân Bang: nếu như những người theo họ chống cự lại ở đâu đó và có thể gây ra cuộc nội chiến mà Chu Ân Lai đã lo sợ, thì đấy là ở Thượng Hải.
Bầu không khí căng thẳng. Quân lính từ tất cả các miền của đất nước được chuyển vào trong thành phố. Theo chỉ thị của Bắc Kinh, Đảng đã tổ chức những cuộc biểu tình ủng hộ Hoa và chống lại Tứ Nhân Bang. Hai đến ba triệu người kéo xuyên qua thành phố và hô lớn theo nhịp: “Đả đảo Giang Thanh!”.
Khắp nơi ở trên tường hay trên những chiếc chiếu được dựng lên cho việc này đều treo những tờ báo chữ to mà trên đó Giang Thanh và những người theo bà bị biếm họa nhưng những con rắn bị hầm trong chảo, tên bị viết đảo ngược lại và bị gạch ngang bằng mực đỏ – giống như bằng máu.
Giang Thanh bây giờ là một con điếm và nữ hoàng, Vương Hồng Văn là một kẻ kiêu ngạo tiêu xài phung phí. Có những lời lên án tương tự như thế cho rất nhiều quan chức địa phương. Khi một người đàn ông trẻ xé những bài viết phỉ báng ấy xuống, anh ấy bị đám đông hành hung.
Mặc cho những lần cố gắng kích động và những cuộc biểu tình kéo dài, sự căng thẳng tan biến nhanh chóng. Trẻ em chạy theo sau, các cửa hàng trên đại lộ Nam Kinh bất thình lình có nhiều hàng hóa để bán, lôi kéo người đến xem và khách mua hàng. Các cuộc biểu tình chống Tứ Nhân Bang bắt đầu mang tính lễ hội nhân dân.
Các cán bộ cao cấp nhẹ nhỏm, Thanh Giang nhất định đã thua cuộc rồi.
NHƯNG MÃI BỐN NĂM SAU ĐÓ, trong mùa Đông 1980/81, Tứ Nhân Bang và sáu người theo họ nổi tiếng nhất mới bị mang ra xử. Mười bị cáo bị lên án là đã “truy nã cho tới chết” 34.800 người trong thời gian của cuộc Cách mạng Văn hóa, “phỉ báng” thêm 729.511 người nữa.
Lời buộc tội này tuy cũng hợp lý, thế nhưng nó không thể làm thay đổi gì về việc, rằng vụ xét xử này đã trở thành một màn kịch mà trong đó đặc biệt là Giang Thanh vẫn không chịu khuất phục tuy đã bị giam giữ nghiêm ngặt nhiều năm liền và chửi rủa những người lên án bà là “phát xít” và “thành viên của Quốc Dân Đảng”.
Người vợ góa của Mao bị tuyên án tử hình, cũng như Trương Xuân Kiều; hai thành viên còn lại của Tứ Nhân Bang nhận án nặng. Sau đấy, người ta chuyển giảm án tử hình thành tù chung thân. Thế nhưng cả bốn người đều được trả tự do trước khi chết. Giang Thanh, đơn độc và cay đắng, tự tử năm 1991.
Chỉ một năm sau cái chết của Mao, Đặng Tiểu Bình đã được phục hồi nhờ vào sự giúp đỡ của viên chỉ huy quân đội nhiều quyền lực của tỉnh Quảng Đông và trở về Bắc Kinh. Ngược lại, thanh thế Hoa Quốc Phong lu mờ – điều ngược đời là cũng bởi vì màn kịch xử án chống “Tứ Nhân Bang”, việc không những làm mất uy tín của Giang Thanh và những người theo bà ấy mà cả Chủ nghĩa Mao nói chung.
Cho tới 1981, Đặng có thể đẩy những người cạnh tranh của ông ấy ra khỏi tất cả các chức vụ quan trọng mà không dẫn đến bắt bớ hay đấu tranh. Hoa mất chức vụ chủ tịch đảng, thủ tướng và chủ tịch quân ủy, nhưng vẫn được phép giữ chỗ đứng của ông ấy trong Trung ương Đảng.
Đại đa số đảng viên đi theo đường lối của Đặng mà không hề càu nhàu, vì họ muốn cắt đứt với cuộc Cách mạng Văn hóa đầy bất hạnh một cách kiên quyết hơn nữa, hơn là có thể với một nhân vật tạm thời như Hoa.
Trong 15 năm sau đấy, Đặng bây giờ trở thành người thống trị Trung Quốc. Trong lúc đó, ông ấy đủ khôn ngoan để không thu tóm tất cả các chức vụ quan trọng về cho mình, mà phân bổ những người trung thành vào đó: Triệu Tử Dương trở thành thủ tướng, Hồ Diệu Bang tổng bí thư Đảng. Tuy vậy, viên quan chức nhỏ người, bị lật đổ hai lần Đặng Tiểu Bình thật ra vẫn trở thành người kế nhiệm Mao.
Và ông ấy có nhiều dự định với Trung Quốc.

THƯỞNG HOA ĐẦU NĂM 2013

Năm mới 2013 đến rồi. BLL K13 Toán Cơ BBT Blog K13toan6872 xin kính chúc các Anh Chị thành viên K13 khoa Toán - Đại học Tổng hợp Hà nội một năm mới đầy sức khỏe và hạnh phúc.

BBT xin gởi bài sưu tầm về hoa đẹp để các anh chị thưởng hoa ngày đầu năm 2013.



Hoa đẹp khoe sắc giữa thiên nhiên
Ngày đăng: Thứ bảy, 10 Tháng 11 2012 14:45Lượt xem: 1779.  
Theo: http://sieuthisocantho.com/the-goi-hoa/hoa-dep/6595-hoa-dep-khoe-sac-giua-thien-nhien.html#.UOHk3eSko88


Persian Buttercup là một loại cây thân thảo phát triển với chiều cao khoảng 45cm. Persian Buttercup thích hợp với đất dễ thoát nước như đất cát, nhưng phải thường xuyên tưới nước và không nên để đất quá khô. Chúng được trồng bằng củ và thường một cây có khoảng từ năm lên tới chục hoa, nở to và có nhiều màu sắc sặc sỡ.
Persian Buttercup có nguồn gốc từ Tây Nam Á, Đông Nam Tây Á và Tây Bắc Châu Phi...
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
alt
Ảnh: ST


LỊCH SỬ LẬP HIẾN Ở ĐỨC (cvk st)



Lịch sử lập hiến ở Đức


Hiến pháp của CHLB Đức hiện nay là một trong những bản Hiến pháp nổi tiếng thế giới về tính chặt chẽ, khoa học và những đặc trưng nổi bật của nhà nước pháp quyền hiện đại. Không thể từ hư vô hay nhờ sao chép từ một bản Hiến pháp của nước khác mà có được những thành tựu ấy.



Sản phẩm lập hiến hiện hành thực sự là sự kết tinh của cả một quá trình dài, thậm chí rất dài, sàng lọc, gắn kết những giá trị lập hiến của nhân loại với những đặc trưng riêng độc đáo của Hiến pháp Đức.Bài viết dưới đây sẽ tiếp cận Hiến pháp Đức từ góc nhìn lịch sử, nhằm chỉ ra những giá trị cốt lõi của bản Hiến pháp này.

1. Một chặng đường lịch sử lập Hiến ở Đức trước năm 1945

Đầu thế kỷ XIX, trên lãnh thổ của Đức nhiều nơi đã có Hiến pháp như Hiến pháp của Bayern (26/5/1818), Baden (22/8/1818), Württemberg (25/9/1819), Hessen-Darmstadt (1820), Kurhessen, Sachsen (1831) và Hannover (1833). Đây là thời điểm xét về tương quan lực lượng, giai cấp tư sản chưa đủ mạnh, nhà vua (der König) vẫn có rất nhiều quyền hành. Về nội dung, các bản Hiến pháp này chủ yếu đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước, dựa trên nền tảng chế độ quân chủ. Các quyền cơ bản chưa được hiểu theo nghĩa là quyền công dân giống Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và ở Pháp, mà chỉ là các quyền của thần dân.[1]
Sau cách mạng tháng 2 năm 1848 của Pháp, ở Đức cũng như nhiều nước Châu Âu khác, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh của tư sản chống phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ. Nhà vua Friedrich Willhelm IV, ngày 21 và 22 tháng 3/1848 đã phải thỏa hiệp với giai cấp tư sản và tuyên bố sẽ xây dựng Hiến pháp chung cho đế chế Đức Phổ.
Ngày 28 tháng 3 năm 1849 Hiến pháp nhà thờ thánh Paul (Paulskirchen-verfassung) của đế chế Đức Phổ được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến mà thành viên là những nhà trí thức hàng đầu thời đó. Họ đã tổng kết kinh nghiệm lập hiến trên thế giới, trao đổi rất kĩ lưỡng và kiến thiết ra một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Đức - một bản Hiến pháp có thể nói về mức độ hoàn bị không thua kém bất cứ một bản Hiến pháp thành văn nào trên thế giới thời điểm đó.
Có được thành quả ấy cũng bởi khi xây dựng Hiến pháp này, các nhà lập hiến đã ý thức được rằng Hiến pháp trước hết phải chứa đựng những giá trị pháp quyền, Hiến pháp sinh ra là để ghi nhận, bảo vệ quyền con người và chống lại sự lạm quyền của nhà nước.[2]
Đọc Hiến pháp này, người ta không khỏi ngạc nhiên và trân trọng những giá trị của nó, vì gần như tất cả các quyền tự do dân chủ mà hiện nay người Đức đang được hưởng đều đã được qui định một cách đầy đủ, chi tiết ở Chương VI của Hiến pháp như: quyền tự do ngôn luận (Điều 143), quyền tự do biểu tình (Điều 161), quyền tự do lập hội (Điều 162), quyền tự do tôn giáo (Điều 147), quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp (Điều 158), quyền tự do khoa học (Điều 152), quyền sở hữu tài sản, quyền tự do cư trú, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 133), quyền bất khả xâm phạm về thư tín, quyền bình đẳng (Điều 137), các quyền tố tụng, liên quan đến việc bắt giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (Điều 175), bãi bỏ hình phạt tử hình (Điều 139)...
Mặc dù đã được thông qua và đăng công báo, nhưng rất tiếc là bản Hiến pháp này lại không được thực thi do sự chống đối của vị vua độc tài Friedrich Wilhelm IV.[3]
Dù không có hiệu lực trên thực tế, nhưng bản Hiến pháp này đã để lại một di sản vô cùng quí giá, đó là lần đầu tiên xây dựng được nền tảng, hình hài của một bản Hiến pháp dân chủ, lần đầu tiên phản ánh được Tinh thần Hiến pháp - một tinh thần xây dựng, đấu tranh và bảo vệ các giá trị sống, các giá trị tự do, dân chủ ở Đức.
Dưới thời Bismark, năm 1871, một bản Hiến pháp thành văn khác có tên là Hiến pháp đế chế Bismark (Bismarcksche Reichsverfassung) đã được thông qua. Điểm hạn chế của bản hiến pháp này là chỉ đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước và hoàn toàn không chứa đựng những quyền cơ bản của công dân, do vậy bản Hiến pháp này đã không được đánh giá cao trong lịch sử lập hiến ở Đức.[4]
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, năm 1919, một Hiến pháp cộng hòa được soạn thảo, thông qua ở Weimar (gọi tắt là Hiến pháp cộng hòa Weimar [Weimarer Reichsverfassung]) có hiệu lực từ ngày 14/8/1919. Đây là bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên có hiệu lực, xác lập một nền cộng hòa, liên bang, tồn tại từ năm 1919 đến 1933 ở Đức.


Nội dung của bản Hiến pháp này có rất nhiều điểm tiến bộ cả trên phương diện tổ chức quyền lực nhà nước cũng như phương diện qui định cụ thể các quyền cơ bản của công dân.
Khác với Hiến pháp đế chế Bismark, hàng loạt các điều khoản của Hiến pháp nhà thờ thánh Paul năm 1948 đã được kế thừa trong bản Hiến pháp này. Hàng loạt các quyền như tự do tôn giáo, tín ngưỡng (chương III, phần 2), quyền học tập (chương 4, phần 2), quyền tự do kinh doanh (chương 5, phần 2), bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 115), quyền tự do ngôn luận (Điều 116), quyền tự do biểu tình (Điều 123), quyền tự do bầu cử (Điều 125), quyền bình đẳng nam nữ (Điều 128, Điều 130), quyền sở hữu, quyền thừa kế (Điều 153) v.v...đã được qui định rất cụ thể, chặt chẽ.
Chính thể của nền cộng hòa Weimar này là chính thể cộng hòa hỗn hợp, bởi đó là sự kết hợp những đặc tính của cả chính thể Cộng hòa Tổng thống và Cộng hòa đại nghị (ein Mischform aus präsidialem und parlamentarischem Regierungssystem).  
Ngoài việc phân định rõ nhiệm vụ của liên bang và các tiểu bang, Hiến pháp Weimar đã xác định rất cụ thể, chi tiết vị trí pháp lý của từng thiết chế như Hạ viện (Reichstag), Thượng viện (Reichsrat), Tổng thống và Chính phủ (Reichspräsident und die Reich), Tòa án (Gerichtshof), cũng như các nhiệm vụ lập pháp (Reichsgesetzgebung), hành chính (Reichsverwaltung) và tư pháp (Rechtspflege).
Bên cạnh cơ chế phân quyền, các vấn đề liên quan đến bảo hiến, trách nhiệm của nhà nước, những yêu cầu được coi là tối quan trọng của nhà nước pháp quyền lần đầu tiên đã được qui định cụ thể trong bản Hiến pháp này
Tòa án quốc gia (Der Staatsgerichtshof) có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về Hiến pháp (Verfassungsstreitigkeiten) giữa các tiểu bang với nhau hoặc giữa liên bang và tiểu bang. Ngoài ra trên cơ sở có đề nghị của Hạ viện  (Reichstag), Tòa án quốc gia có quyền phán quyết việc liệu những chức danh đứng đầu nhà nước có vi phạm Hiến pháp hay luật của nền cộng hòa hay không. (Xem thêm: Milan Kuhli:Zur Verfassung von Weimar – eine Einführung, in: Juristische Ausbildung (JURA)2009, S. 321–329).
Về vấn đề trách nhiệm của nhà nước (Staatshaftung), Điều 131 Hiến pháp 1919 qui định trách nhiệm nhà nước phải bồi thường cho công dân khi công chức gây ra thiệt hại, một cách có lỗi, khi thi hành công vụ. Đây là qui định đầu tiên xác lập trách nhiệm bồi thường của nhà nước theo nghĩa hẹp (Staatshaftung i.e.S), đồng thời là một bước tiến nổi bật so với qui định trách nhiệm cá nhân của công chức phải bồi thường khi thi hành công vụ (Điều 839 BLDS 1900). Qui định này sau này được kế thừa và phát triển ở Điều 34 Luật cơ bản.
Trong suốt thời cai trị của Adolf Hitler và Đảng Đức quốc xã sau này (1933 – 1945), bản Hiến pháp cộng hòa Weimar hoàn toàn không bị bãi bỏ. 
Luật cơ bản của Cộng hòa liên bang Đức (Tây Đức) và nước Đức thống nhất sau này đã kế thừa nhiều nội dung tiến bộ từ Hiến pháp cộng hòa Weimar, cũng như Hiến pháp nhà thờ thánh Paul nếu nhìn trong một chiều dài lịch sử lập hiến ở Đức.

2. Hoàn cảnh ra đời Luật cơ bản (Grundgesetz) của Cộng hòa liên bang Đức

Năm 1947, sau khi hội nghị ngoại trưởng của bốn nước đồng minh thắng trận Mỹ, Anh, Pháp, Liên xô (Siegermächte) ở Mát-xơ-cơ-va và ở Luân đôn không đi đến thống nhất về tương lai của nước Đức, ba nước Mỹ, Anh và Pháp đã tìm cách đưa ra sự thống nhất chung mà không cần đến sự nhất trí của Liên Xô. [5]
Cụ thể ngày 1/7/1948, các chính quyền quân sự ở Tây Đức gồm Mỹ, Anh và Pháp đã ký các thỏa thuận chung tại Frankfurt (Frankfurter Dokumente). Nội dung chính của các thỏa thuận này liên quan đến vấn đề lập hiến. Trước tình trạng tiến thoái lưỡng nan, mọi quyết định không thận trọng có thể dẫn đến mối nguy hại về việc chia cắt nước Đức, các nước này đã thống nhất 3 vấn đề chính trong thỏa thuận chung Frankfurt về lập hiến:
Thứ nhất, không tổ chức tổng tuyển cử bầu Hội đồng lập hiến (verfassunggebende Versammlung) mà Hội đồng này chỉ bao gồm đại biểu do Hạ viện các bang trực tiếp bầu ra.  
Thứ hai, lấy tên là Luật cơ bản (Grundgesetz) thay vì Hiến pháp (Verfassung).
Thứ ba, sau khi Hội đồng lập hiến thông qua Luật cơ bản, sẽ không tổ chức trưng cầu dân ý (Volksabstimmung) mà chính quyền quân sự trung ương (Militärgouverneure) và Hạ viện của bang sẽ quyết định việc chuẩn thuận Hiến pháp.
Tháng 8/1948, một Ủy ban soạn thảo Hiến pháp (Sachverständigenausschuss) bao gồm các chuyên gia luật học hàng đầu về lĩnh vực luật công lúc đó đã được các thống đốc bang triệu tập ở Bayern để bàn thảo xây dựng Hiến pháp.


Xây dựng lại đất nước trong đống hoang tàn đổ nát, người Đức đã nhanh chóng  tiếp nối Tinh thần Hiến pháp trong việc xây dựng Luật cơ bản năm 1949, một tinh thần đã có một thế kỷ phát triển nếu tính từ bản Hiến pháp đầu tiên là Hiến pháp nhà thờ thánh Paul năm 1848. Tại Hội nghị lập hiến, Karl Arnold, thống đốc bang Nord-Rhine Westphalia (sau này là Chủ tịch Thượng viện) đã tuyên bố một câu nói nổi tiếng rằng: "Nhiệm vụ của chúng ta rất nặng nề đó là tiếp nối tinh thần Hiến pháp, chúng ta phải làm việc thật cẩn trọng và trách nhiệm, phải cân nhắc để chắc chắn rằng những gì mà chúng ta kiến thiết hôm nay, ngày mai sẽ là tương lai tốt đẹp cho tất cả người Đức".Kết quả là dự thảo Luật cơ bản đầu tiên đã được xây dựng vào thời điểm này.
Ngày 1/9/1948, Hội nghị lập hiến được tổ chức ở Bonn (thủ đô của Tây Đức) để thảo luận và thông qua Luật cơ bản. Hội nghị này gồm 65 thành viên. Những thành viên này do Hạ viện của các bang bầu ra. Chủ tịch Hội nghị này là Konrad Adenauer - người sau này là Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa liên bang Đức (Tây Đức).
Sau một quá trình làm việc cẩn trọng, ngày 8/5/1949, Hội nghị lập hiến đã biểu quyết thông qua Luật cơ bản(Grundgesetz) với tỷ lệ 53 phiếu thuận, 12 phiếu chống trên tổng số 65 phiếu.
Theo Hiệp định chung Frankfurt đã ký kết ngày 1/7/1948, ngày 12/5/1949, sau khi Hội nghị lập hiến đã biểu quyết thông qua Luật cơ bản, chính quyền quân sự trung ương (Militärgouverneure) phải chuẩn thuận bằng văn bản và có đủ ít nhất 2/3 tổng số Hạ viện của các bang (Landtage) thuộc Tây Đức nhất trí thông qua. Trừ bang Bayern, khi tiến hành thủ tục này, các bang đều nhất trí chuẩn thuận Luật cơ bản.
Vào 24 giờ ngày 23.5.1949, Luật cơ bản (Grundgesetz) chính thức có hiệu lực.

3. Hiến pháp Cộng hòa dân chủ Đức (DDR)

Chỉ một thời gian ngắn sau khi Luật cơ bản có hiệu lực, Liên xô tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Republik, thường được gọi tắt là nhà nước Đông Đức, hay DDR) trên phần lãnh thổ chiếm đóng.
Vào ngày 7/10/1949 nhà nước Cộng hòa dân chủ Đức đã thông qua Hiến pháp.Hiến pháp của Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) đã xóa bỏ chế độ phân quyền (có từ Hiến pháp Cộng hòa Weimar) và xây dựng chế độ tập quyền thống nhất. Điều 50 Hiến pháp DDR qui định cơ quan dân biểu (Volkskammer) là cơ quan tối cao của nền Cộng hòa. Hiến pháp DDR cũng qui định các quyền cơ bản (từ Điều 6 đến Điều 18), tuy nhiên trên thực tế chúng không được thực thi và với những quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp này công dân hoàn toàn không thể được khởi kiện thông qua một Tòa án hiến pháp độc lập khi các quyền của mình bị xâm hại (ohne Rechtsweg).[6]
Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, chế độ cộng sản ở Liên xô và các nước Đông Âu lần lượt sụp đổ.

4. Thống nhất nước Đức và những thay đổi của Luật cơ bản

Ngày 9/11/1989, bức tường Berlin ngăn cách giữa Đông Đức và Tây Đức bị phá bỏ. Trên cơ sở hiệp định thống nhất nước Đức giữa Cộng hòa liên bang Đức và Cộng hòa dân chủ Đức ngày 3/10/1990, 5 bang của Đông Đức và phía Đông của Berlin đã thuộc về Cộng hòa liên bang Đức thống nhất.
Sự thống nhất nước Đức cũng chấm dứt về mặt pháp lý Hiệp định quốc tế giữa bốn nước đồng minh chiến thắng, chấm dứt hiệp định chung chế độ hai nhà nước Đức (hay còn gọi là Hiệp định 2+4-). Theo đó, Hiến pháp của Cộng hòa dân chủ Đức chấm dứt hiệu lực và Luật cơ bản  (Grundgesetz) có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ nước Đức thống nhất.[7]
Trước khi nước Đức thống nhất năm 1990, Luật cơ bản cũng đã có một số lần sửa đổi như:
- Năm 1954/1956: Bổ sung nghĩa vụ quân sự (1954) và tổ chức lực lượng quốc phòng (1956);
- Năm 1968: Qui định về tình trạng khẩn cấp, bổ sung qui định trách nhiệm của nhà nước tại Điều 20 Khoản 4. 
- Năm 1969: Cải cách về tài chính, bổ sung Điều 104a GG và thay đổi cơ bản các Điều 105 GG, 106 GG, 107 GG, 108 GG.
Sau khi nước Đức thống nhất, đã có một số sửa đổi, bổ sung như: 
- Năm 1990: Thay đổi lời nói đầu (Präambel), bãi bỏ Điều 23, bổ sung Điều 143 GG và qui định mới Điều 146 GG.
- Năm 1992: Qui định mới Điều 23 GG liên quan đền những qui định về EU năm 1992. 
Ngoài ra, nước Đức cũng đã tiến hành hai lần cải cách liên bang (Föderalismusreform) vào năm 2007 và năm 2009. Cải cách liên bang năm 2007 tập trung bổ sung thẩm quyền lập pháp của liên bang tại Điều 72 và Điều 74 GG, trong đó giảm bớt số lượng các đạo luật của liên bang mà đòi hỏi phải có sự chuẩn thuận của Bundesrat tại Điều 84 Khoản 1 GG. Cải cách liên bang năm 2009 tập trung về vấn đề giới hạn nợ công (Schuldenbremse) ở Điều 109 Khoản 2 GG và Điều 115 Khoản 2 GG.[8]

5. Thành công của Luật cơ bản (Grundgesetz)

Luật cơ bản của CHLB Đức đến nay đã trải qua lịch sử hơn 60 năm (1949 - 2012). [9] Qua tìm hiểu, nghiên cứu, tôi cho rằng Luật cơ bản Đức có ba giá trị cốt lõi nhất  và có ý nghĩa nhất sau đây:
5.1. Thành công thứ nhất, những giá trị của "Tinh thần Hiến pháp dân chủ" có từ trong lịch sử ở Đức đã được kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và thể hiện trong Luật cơ bản Đức 
Luật cơ bản của Đức là sự tiếp nối những giá trị của Hiến pháp trong suốt một chiều dài lịch sử lập hiến của nước Đức.
Hiện nay trong Luật cơ bản có hẳn một chương riêng, viện dẫn trực tiếp các Điều khoản của hiến pháp Weimar, với 31 điều (từ Điều 116 đến Điều 146 Luật cơ bản). Chính điều này làm cho một phần của Hiến pháp Weimar như được sống lại và tiếp tục phát huy những giá trị của nó trong Luật cơ bản 1949. 
5.2. Thành công thứ hai là chế độ dân chủ ở Đức đã được vĩnh viễn hóa, một hệ thống các quyền cơ bản của công dân có chất lượng và có sức mạnh thi hành đã được thể hiện đầy đủ trong Luật cơ bản
Điều 79 khoản 3 Luật cơ bản đã vĩnh viễn hóa nền tảng của chế độ dân chủ. Điều luật này chỉ rõ các qui định về nhân quyền (Menschenwürde) tại Điều 1 và các nguyên tắc nhà nước cộng hòa dân chủ pháp quyền liên bang (Verfassungsgrundsätze) tại Điều 20 là không thể thay đổi. Hay nói cách khác, Điều khoản này đã vĩnh viễn hóa những đặc trưng nền tảng về dân chủ, pháp quyền của nhà nước Đức, vĩnh viễn hóa một chân lý: “Phẩm giá của con người là giá trị cao nhất và không thể bị xâm phạm”.
Về chất lượng, các nhà lập hiến khi xây dựng Luật cơ bản đã thừa nhận một hệ thống các giá trị khách quan về quyền con người như: Quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể (Điều 2), quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng (Điều 4), quyền tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do về khoa học và nghệ thuật (Điều 5), Quyền tự do biểu tình (Điều 8), Quyền tự do lập hội, cấm các biện pháp hạn chế đình công (Điều 9), quyền tư hữu (Điều 14)…Các quyền cơ bản này ngoài chức năng bảo vệ tự do cá nhân (Schutz der individuellen Freiheit) còn có chức năng là các quyền tự vệ của cá nhân (Abwehrrechte) đối với nhà nước.
Luật cơ bản Đức 1949 đã có sự tách biệt rõ đâu là quyền (Rechte) và đâu lànghĩa vụ (Pflichte) cơ bản của công dân (Điều 1-19), điều này hoàn toàn khác vớiHiến pháp của Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) 1949, 1968 không có sự tách rời giữa quyền và nghĩa vụ của công dân (giống với Điều 51 Câu 1 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 hiện hành). Có nghĩa là theo Luật cơ bản 1949 thì đối với một vấn đề, công dân chỉ có quyền hoặc nghĩa vụ, chứ không phải là quyền đồng thời là nghĩa vụ, chẳng hạn như quyền bầu cử (Điều 38 Luật cơ bản) là một quyền tự do,  chứ không phải vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ giống ở DDR trước đây hay ở Việt Nam hiện nay. Ưu điểm rất rõ qui định này là bất cứ ai khi đọc luật cơ bản cũng có thể hiểu được điều gì được phép làm (quyền) và những gì bắt buộc phải làm (nghĩa vụ).
Về sức mạnh thi hành, Điều 19 khoản 4 Luật cơ bản qui định „Nếu bất cứ ai bị các cơ quan công quyền xâm hại các quyền cơ bản đã được nêu trong Luật cơ bản, đều có quyền khởi kiện trực tiếp“. Sức mạnh thi hành của Luật cơ bản chỉ thực sự đi vào cuộc sống sau khi Luật tòa án Hiến pháp (Bundesverfassungsgerichtgesetz - BVerfGG) năm 1951 và qui định bổ sung chế định khiếu kiện Hiến pháp của công dân tại Điều 93 khoản 1 số 4a Luật cơ bản năm 1969 có hiệu lực. Từ đó đến nay, từng quyền cơ bản của công dân được bảo vệ, được giải thích và làm sáng tỏ trong các phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hiến pháp liên bang.
5.3. Thành công thứ ba là Luật cơ bản đã xây dựng nền tảng của một nhà nước pháp quyền hiện đại (moderner Rechtsstaat), mô hình Tòa án Hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgericht) và chính thể đại nghị bền vững (palamentarisches Regierungssystem). Đây là những nét đặc trưng điển hình trên phương diện tổ chức quyền lực nhà nước trong Luật cơ bản.  


Các yêu cầu về hình thức như phân chia quyền lực (Gewaltenteilung),  đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và các đạo luật (Vorrang von Verfassung und Gesetz), đảm bảo tư pháp độc lập và các bảo đảm thủ tục tố tụng (Justizgrundrechte und Verfahrensgarantie), đảm bảo quyền tố tụng Hiến pháp (Justizgewaehrungsanspruch), cũng như những yêu cầu về nội dung của nhà nước pháp quyền như sự an toàn pháp lý (Rechtssicherheit), chống độc quyền (Willkürverbot), hiệu lực trực tiếp các quyền cơ bản (Unmittelbare Geltung der Grundrechte), bảo vệ niềm tin của công dân (Vertrauensschutz), trách nhiệm bồi thường của nhà nước (Staatshaftung) đều được qui định một cách chi tiết, chặt chẽ trong Luật cơ bản này.
Tòa án Hiến pháp liên bang(Bundesverfassungsgericht)  là một thiết chế có chức năng bảo vệ Hiến pháp và bảo vệ nền dân chủ (wehrhafte Demokratie) ở Đức. Thiết chế này được đánh giá là một trong những mẫu hình bảo hiến thành công nhất trên thế giới hiện nay. Kế thừa những giá trị về bảo hiến của HIến pháp Weimar, thẩm quyền của Tòa án này đã được mở rộng hơn, cụ thể như Điều 93, Điều 100, Điều 21 Khoản 2, Điều 41 khoản 2, Điều 61, Điều 93 khoản 1 số 4b. Trong những quy định này,  thẩm quyền quan trọng nhất của Tòa án Hiến pháp gồm: quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến nếu đạo luật đó trái với Luật cơ bản (Điều 100 khoản 1); quyền giải thích Hiến pháp (Điều 93 khoản 1 số 2), quyền giải quyết xung đột thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở Liên bang (Điều 93 khoản 1 số 1); quyền giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa liên bang và tiểu bang (Điều 93 Khoản 1 số 3 và số 4) và đặc biệt là quyền giải quyết khiếu kiện Hiến pháp của cá nhân (Điều 93 khoản 1 số 4a).
Về chính thể, chính thể nước CHLB Đức hiện nay là chính thể cộng hòa đại nghị điển hình trên thế giới. Khác với Hiến pháp Cộng hòa Weimar trước đây, Tổng thống không còn là một thiết chế có nhiều quyền hành. Theo Luật cơ bản, Tổng thống liên bang là một thiết chế đại diện, không được nhân dân bầu trực tiếp mà được bầu thông qua Hội nghị liên bang [Bundesversammlung]  (Điều 54 Luật cơ bản). Nhân dân trực tiếp bầu các nghị sĩ Hạ viện liên bang (Điều 38 Luật cơ bản). Hạ viện bầu ra Thủ tướng theo đề nghị của Tổng thống liên bang (Điều 63 khoản 1 Luật cơ bản). Thủ tướng thành lập nên Nội các (Điều 64 Luật cơ bản). Thủ tướng có thể bị bất tín nhiệm và Hạ viện có thể bị giải tán (Điều 67 và Điều 63 khoản 4 Luật cơ bản).
Có thể thấy mặc dù ra đời muộn hơn so với Mỹ, Pháp nhưng Hiến pháp của Đức cũng đã kết hợp được đầy đủ những giá trị tích cực của chủ nghĩa lập hiến trên thế giới và giá trị lập hiến trong lịch sử của chính nước Đức. Đây chính là điều góp phần quan trọng làm nên sức sống trường tồn của Hiến pháp Đức, làm nên một Tinh thần Hiến pháp - một tinh thần được vun đắp, tiếp nối, phát triển, bảo vệ qua nhiều thế hệ. Tinh thần ấy sống không chỉ ở những con chữ của Hiến pháp mà còn nằm trong tâm thức cũng như hành động gìn giữ, bảo vệ, phát triển những giá trị này. Với nhiều qui định tiến bộ, chặt chẽ, Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức hiện nay đãvượt ra khỏi phạm vi nước Đức, xứng đáng trở thành một giá trị văn minh chung của nhân loại và là mẫu hình rất đáng tham khảo đối với nhiều quốc gia muốn hướng đến dân chủ, pháp quyền theo nghĩa hiện đại.

 [1] E. –W. Böckenförde (Hrsg.), Probleme des Konstitutionalismus im 19. Jahrhundert, 1975; J. Hilker, Grundrechte im deutschen Frühkonstitutionalismus, 2005; M. Schwertmann, Gesetzgebung und Repräsentation im frühhkonstitutionellen Bayern 2006.
[2] Xem: Edel/Thielmann, Rechtsgeschichte, 3. Aufl., 2003, Rn.526f.
[3] Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn. 160; Frotscher/ Pieroth, Verfassungsgeschichte, 8. Aufl., 2009, Rn. 345 – 350.
[4] Frotscher/ Pieroth, Verfassungsgeschichte, 8. Auflage, 2009, Rn. 442; Gröpl,Staatsrecht I, 2. Aufl., 2010, Rn. 171ff.
[5] Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn. 171ff.; Vogt, Der Parlamentarische Rat in Bonn, S. 41 – 46 in: 60 Jahre Grundgesetz, Aus Politik und Zeitgeschichte, BPB, Nr. 18 – 19/2009, 27/4/2009.
[6] Boldt, Verfassungsgeschichte, S.302f.; G. Brunner, Das Staatsrecht der Deutschen Demokratischen Republik, in: Insensee/ Kirschhof, Handbuch des Staatsrechts, Band I, S. 531 ff.
[7] Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn. 171 ff.
[8] Gröpl, Staatsrecht I, 3. Aufl., 2011, Rn. 719 f.
[9] H. Vorländer, Die Deutschen und ihre Verfassung, S. 33 – 40 in: 60 Jahre Grundgesetz, Aus Politik und Zeitgeschichte, BPB, Nr. 18 – 19/2009, 27/4/2009; K. Niclauß, Die Bundesregierung im Verfassungssystem, S.33 – 40 in: 60 Jahre Grundgesetz, Aus Politik und Zeitgeschichte, BPB, Nr. 18 – 19/2009, 27/4/2009.

Nguồn: Nguyễn Minh Tuấn/ Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp,
Số 1/2012, tr. 60 - 63

Chào Năm mới


                                 
Chúc mừng năm mới 2013

Hà Nội ngày đầu năm
Giá lạnh buốt da
Sương sa đọng hạt
Trên sân thượng
                          nhà tôi
Một Bông hồng hé nở
Cánh mỏng manh vui cười
                           trước gió
Tôi chợt quên cái lạnh
Từ thuở hồng hoang
Quên một năm gian khó
Vừa đi qua trên Tổ quốc mình
Hy vọng, tin yêu vào năm mới
Đẹp như Bông hồng vừa nở
Trên sân thượng
                          nhà tôi
Chào Bình minh Năm mới

Kim Ngọc Cương