Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Hẻm buôn chuyện

Nhật Tuấn là một nhà văn nổi tiếng. Sức viết của Ông rất dồi dào, Ông có khả năng cùng một lúc viết hai, ba cuốn truyện khác nhau và viết đến đâu thì post lên Blog ngay đến đấy. Nhà văn Trần Đức Tiến đã nhận xét văn của ông như sau: "Thẳng thừng, sắc lẻm vốn là khẩu khí của Nhà văn này".
Từ hôm nay, trên K13toan6872 sẽ bắt đầu post dần "Hẻm buôn chuyện" của Nhà văn Nhật Tuấn để phục vụ độc giả không có điều kiện theo dõi từng kỳ đã đăng tải trên Blog NhatTuan.

Có một thứ quan không …”ăn”.


Hẻm nhà  tôi  thuộc loại “ổ chuột” Sàigòn , chủ yếu dân xe ôm, cave, bán quán, gọt củ cải…Bởi vậy có 3 đặc điểm : không có loa phường, không bao giờ treo cờ và cũng không bao giờ…họp tổ dân phố.
Bù lại, bà con suốt ngày ngồi quán càphê chị Gái đầu hẻm …”buôn chuyện”. Thôi thì đủ thứ trên trời dưới đất, từ chuyện tăng giá xăng, giá  ga, giá điện…cho tới người mẫu bán dâm, lưỡi bò Trung Quốc liếm vào tận biển Nha Trang…
Người “buôn” nhiều nhất phải kể tới : cô Phượng cave tiếp viên bia ôm, thằng Bảy xe ôm, ông Tư chuyên bán “gà nướng”, gã Ký Quèn vốn là nhà báo bị thu thẻ…đặc biệt ông Ba “đại tá hưu” chẳng hiểu sao lại lọt vô hẻm xây nhà lầu chềnh ềnh , vượt lên trên đám nhà rách trong xóm.
  Mấy hôm nay Sàigòn mưa liên miên làm ông Tư Gà nướng ế hàng ,  ngồi ngáp vặt khiến cô Phượng cave thắc mắc :
“ Chú Tư Gà nướng sướng nhỉ, mấy hôm nay không đi bán hàng, cứ ngồi nhâm nhi cà phê suốt…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Mưa thế này, ma nào thèm hỏi tới món gà nướng ?”
Cô Phượng cave ngạc nhiên :
“ Ủa sao kỳ vậy chú Tư ? Sao trời mưa khách không ăn gà nướng ?”
Ông Tư Gà nướng :
“ Thì các cụ đã nói rồi “gà trời gió, chó trời mưa”. Mưa liên miên vầy chỉ tụi bán thịt cày là đông khách , còn món gà của tao phải chờ tới hôm trời gió…”
Cô Phượng cave cười :
“ Hèn chi mấy bữa nay cứ thấy chú Tư Gà nướng ngồi ngáp hoài. Vậy chú có biết hôm nào trời gió không ?”
Ông Tư Gà nướng lắc đầu :
“ Nó là quy luật thiên nhiên sao biết được ?”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
" Quy luật xã hội thì biết liền …”
Cô Phượng cave láu táu :
“ Nó ra sao , anh Ký Quèn ?”
Gã Ký Quèn cười lớn :
“ Thì đó…cứ nhìn ra ngoài phố kìa . Quan ngồi xe Mẹcxêđì , dân đạp xe cọc cạch , vậy mới hợp  quy luật xã hội ?"
Thằng Bảy xe ôm cáu kỉnh :
" Quy luật gì mà bất nhơn vậy ?"
Gã Ký Quèn cười hì hì :
" Quy luật cách mạng xã hội chủ nghĩa chớ quy luật gì ? Cách mạng càng tiến lên thì bộ mặt tham nhũng của các quan càng lộ rõ , thiệt y như câu hát dân gian :
Cháy nhà mặt chuột ló ra
Mang danh vô sản nhưng là đại gia
Đi làm cộng sản ngon ha...
Ông đại tá hưu đập bàn :
" Phản động, phản động. Thằng Ký Quèn nói xấu cộng sản đáng bỏ tù. Tụi bay không biết bác Hồ đã dậy cán bộ luôn lo trước thiên hạ, luôn  hưởng sau thiên hạ, vậy sao mày dám nói "vô sản" là "đại gia " hả ?"
Gã Ký Quèn vờ ngạc nhiên :
" Ủa ...chú Ba không biết các "đại gia ngày nay" đều là con cái lãnh tụ cộng sản cả sao ? Nào con gái đồng chí Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đồng chí Bộ chính trị Tô Huy Rứa ….đều là các đại gia tỉ phú vốn liếng trăm triệu đô la cả đó thôi..."
Chị Gái hủ tíu rền rĩ :
" Chèn đéc ôi...tiền bạc đâu mà nhiều dữ vậy ?"
Ông Tư Gà nướng lên tiếng :
" Ủa... cái chị Gái này còn hổng biết sao ? Quan lớn ăn lớn, quan nhỏ ăn nhỏ. Quan nào cũng "ăn" hết nên mới giàu vậy chớ sao ?"
Thằng Bảy xe ôm lên tiếng :
" Chú Tư gà nướng nói đúng đó. Cán bộ bây giờ ăn ngập mặt ngập mũi, ăn hớt, ăn bẩn, ăn tục, ăn lận, ăn chận, ăn cướp, ăn gian, ăn tham, ăn lường, ăn bịp, ăn suông, ăn ké, ăn chia, ăn sống, ăn lạnh, ăn nóng, ăn theo, ăn chực, ăn vạ, ăn lẻ..."
Gã Ký Quèn phụ hoạ :
" Ngoài các kiểu ăn đó ra , còn có "ăn dơ" nữa kìa. Ăn dơ nhất phải nói là cái con mẹ gì ở Vũng Tàu ăn cả gạo cứu đói…”
Cô Phượng cave cướp lời :
" Vậy  là ăn...chặn. Chưa ghê bằng ăn...án..."
Thằng Bảy xe ôm :
" Ăn án là ăn quỷ gì ?"
Cô Phượng cave :
" Là ăn tiền chạy án đó. Khối ông thẩm phán nhận tiền của bị can nên xử đểu , bắt người vô tội, tha bổng kẻ có tội . Bây giờ người ta bảo “cán bộ cái gì cũng ăn”
Cả quán cười ầm . Ông đại tá hưu đập bàn :
" Tham nhũng là chuyện đau xót của Đảng , sao tụi bay lại cười ?"
Gã Ký Quèn cười cười :
" Tụi nó cười chuyện cán bộ ta cái gì cũng "ăn" đó chú Ba. Tỷ như ở Cục thuế Đồng Nai mấy năm trước kìa , sơ sơ mới có 7 "quan thuế" xơi 36 tỉ đồng tiền thuế đấy chú Ba..."
Cô Phượng cave cười rinh rích :
" Kiểu này kêu bằng ăn...thuế rồi. Tuy nhiên ăn...thuế không ghê bằng ăn ...đất. Tỉnh nào cũng có cán bộ ăn...đất. Bình Dương, Bình Phước, Hải Phòng...nơi nào cán bộ cũng ăn cả chục cả trăm héc ta đất của dân , đút túi cả trăm tỉ, ngàn tỉ..."
Thằng Bảy xe ôm cướp lời :
" Ăn đất cũng chưa ghê bằng ăn...phân. Ở một tỉnh miền núi, nhà nước hỗ trợ phân bón cho nông dân. Phân chở về tỉnh chuyển về đến xã thì đã thất thoát vào túi các quan mất đến 6 phần mười. Tới được tay nông dân thì lại là phân...đểu tức phân có pha đất..."
Thằng Bảy xe ôm :
" Ăn kiểu đó chỉ là cán bộ cấp tỉnh thôi. Hổng biết cán bộ trung ương như  Bộ trưởng, Thủ tướng, Phó Thủ tướng có được ăn gì không hè ?"
Cô Phượng cave cười  rinh rích :
" Rõ thằng Bảy xe ôm lo đĩ không biết vén váy. Mấy cha cấp Bộ trở lên cứ ký duyệt một dự án là ăn mấy phần trăm . Tiền vào tài khoản mật của mấy chả nhiều như nước Hồng Hà Cửu Long ấy chớ ?"
Chị Gái hủ tíu rền rĩ :
" Chèn đéc ôi, cán bộ cấp nào cũng ăn, ăn đủ thứ, gì cũng ăn, vậy có thứ gì cán bộ không ăn không hả trời ?"
Gã Ký Quèn cười hô hố :
" Có chớ...có một thứ mà không một quan lớn quan bé nào dám ăn..."
Cô Phượng cave tròn mắt :
" Thứ gì mà ghê gớm vậy anh Ký ? Thứ gì mà không quan nào dám ăn ? Hạt xoàn hả ?"
Gã Ký Quèn cười  lớn :
" Không phải hạt xoàn. Cái thứ không quan nào dám ăn chính là...hạt "năn" đó ..."
Cô Phượng cave thắc mắc :
" Hạt "năn" là hạt quỷ gì , anh Ký ?"
Gã Ký Quèn cười phá :
" Hạt "năn" là ..."ăn năn " ấy mà. Bởi vậy mới nói cán bộ Đảng ta gì cũng ăn, ăn tất tần tật, trừ ra mỗi..."ăn ... năn" là không thôi..."
Cả quán cười ầm. Riêng ông đại tá hưu nhăn nhó như nhá phải ớt.



Xã hội đỏ…xã hội đen…(!)                                      

 Sáng nay ngoài hẻm có tiếng người chạy rầm rập, tiếng la hét, tiếng gọi nhau í ới . Chuyện gì vậy ? Xăng sắp lên giá, bà con kéo đi mua trữ ? Cướp giật ngoài phố chạy vào hẻm ? Tai nạn giao thông chết người thiên hạ đổ đi coi ? Bà con trong quán càphê đang đoán già đoán non, thằng Bảy xe ôm chạy về, bô bô :
“ Chèn đéc ôi…5 thằng cô hồn vác mã tấu sáng quắc, quần áo rằn ri, hai cánh tay xăm toàn rắn rết , cóc nhái nom thấy ghê.”
Cô Phượng cave tròn mắt :
“ Tụi nó kéo nhau đi đâu như  ăn cướp vậy Bảy …”
Thằng Bảy xe ôm cao giọng :
“ Đúng ăn cướp chứ còn gì ? “
Chị Gái hủ tíu rền rĩ :
“ Chèn đéc ôi…xóm mình nghèo rớt mồng tơi rau muống , còn ai có của nả gì đâu mà vô cướp…”
Thằng Bảy xe ôm trợn mắt :
“ Ua …cái bà này lãng sệt  …bà quên mất nhà ông đại tá hưu giàu nứt đố đổ vách là gì ?”
Cô Phượng cave ngạc nhiên :
“ Cướp nào to gan vậy ? Dám cướp nhà ông đại tá hưu ? Công an đặc nhiệm, cảnh sát 113 đâu không gô cổ tụi nó lại ?”
Vừa dứt lời tiếng còi xe cảnh sát í o…í  o …đã vang lên chói tai. Cô reo lên :
“ Đó…đó…vừa nhắc đã tới rồi đó…chắc ông đại tá hưu gọi điện 113 đây. Ong gọi tụi nó mới tới lẹ vậy chớ dân thường thì còn lâu ạ... Đi coi  không Bảy ?”
Nói rồi cô cùng thằng Bảy xe ôm tót khỏi quán chạy về nhà ông đại tá hưu. Ong Tư Gà nướng nhìn theo than trời :
“ Chèn đéc ôi…xã hội này loạn rồi…giữa ban ngày ban mặt côn đồ vác mã tấu nghênh ngang đi cướp ?”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Vậy nhằm nhò gì, ngoài Bắc kìa, 20 thằng côn đồ kéo vào nhà dân oan ở Văn Giang đánh đập trọng thương cả người già, rồi ngay giữa Hànội kéo  vào nhà người ta đập phá, hành hung chỉ vì tội đi biểu tình…”
Chị Gái hủ tíu phụ hoạ :
“ Công an đâu để côn đồ làm dữ vậy cà ?”
Gã Ký Quèn kêu lên :

“ Thì cả công an cũng đánh chết người giữa phố kìa..Hôm nay Tòa xử có 4 năm tù mà thằng đó còn không chịu, đòi kháng án đó…Công an với côn đồ bây giờ khó phân biệt lắm. Bởi vậy mới có câu :

“ Côn đồ là ai ? Côn đồ là ta…

Công an cởi áo hóa ra…côn đồ”

Ông đại tá hưu đập bàn quát :

“ Thằng Ký Quèn làm thơ phản động, nói xấu công an, tao báo cảnh sát gô cổ mày giờ ?”

Gã Ký Quèn gân cổ cãi :

“ Phải tôi làm đâu, tôi đọc trên mạng chớ bộ,chú Ba cứ vào mạng coi…cả đống trên đó…”  
Bất chợt cô Phượng cave chạy về láu táu ::
“ Ly kỳ…ly kỳ…đúng hình sự Mỹ…”
Gã Ký Quèn tò mò :
“ Ly kỳ sao cô Phượng ?”
Cô Phượng giọng quan trọng :
“ Thì mới đầu 5 thằng đầu gấu vác mã tấu vào kè cổ cô Ba vợ ông đại tá hưu đòi tiền. Hóa ra cái vụ bán cổ phiếu cho bà Mười Mập từ năm ngoái, bây giờ thị trường chứng khoán sắp sập, cổ phiếu thành mớ giấy lộn bả mới cho lưu manh tới đòi lại. May quá, lúc cổ sắp mở két trả lại tiền thì ông đại tá hưu kêu được cảnh sát 113 tới tước dao, còng tay cả 5 thằng lại…”
 Gã Ký Quèn dài giọng :
“ Chuyện vậy có gì là ly kỳ …?”
Cô Phượng cave lớn tiếng :
“ Chưa…chưa tới lúc cao trào . Tới đây mới gọi là giật gân kìa. Đúng vào lúc cả 5 thằng đầu gấu bị giải ra xe thì cha đội trưởng cảnh sát 113 nhận điện thoại của ai đó chắc của cấp trên nên mặt xanh như đít nhái, vâng vâng dạ dạ rối rít…”
Rồi để tăng thêm hồi hộp, cô Phượng cave ngừng nói, với tay nhấm nháp ngụm cà phê làm gã Ký Quèn sốt ruột :
“ Rồi sao nữa cô Phượng ?”
“  Lập tức gã đội trường thả ngay cả 5 thằng đầu gấu. Nhưng đó chưa phải hồi gay cấn . Đây mới là đỉnh cao của vở kịch nè. Vừa lúc đó bà Mười Mập xuất hiện. Bà thì thào vào tai ông đại tá hưu sao đó khiến ông vâng dạ rối rít, mở ngay két đếm đủ tiền trả lại bà không thiếu một cắc…”
Vừa lúc đó thằng Bảy xe ôm quay vào quán rối rít :
“ Chèn đéc ôi, bữa nay mới thấy ba thằng cảnh sát hiền lành như “cháu ngoan bác Hồ“ vậy. Đang la hét, hống hách vừa thấy bà Mười Mập đi tới , thằng cha đội trưởng tái mét mặt, “chị chị em em rối rít”…Hoá ra con mẻ này là thành uỷ viên…”
Chị Gái hủ tíu thắc mắc :
“ Thành uỷ viên là cái gì mà công an phải sợ ?”
Cô Phượng cave cười  hắc hắc :
“ Ua cái bà Gái này lạc hậu dữ . Công an là lực lượng vũ trang “ còn đảng còn mình” , vậy không sợ Đảng thì còn sợ ai ?”
Ông Tư Gà nướng lúc này mới rền rĩ :
“ Chèn đéc ôi…xã hội đỏ…xã hội đen…tùm lum cả…hổng biết ông Tống Bí Thơ Nguyễn Phú Trọng có biết không ?”
Cô Phượng cave cười cười :
” Biết chứ sao không ? Đảng của ta trăm tai ngàn mắt mà…”
ÔngTư Gà nướng bực bội :
” Biết sao không ra lệnh công an không được đàn áp nhân dân ? Bộ ông quên lời bác Hồ dặn công an nhân dân là đầy tớ của dân à ?”
Gã Ký Quèn lên tiếng :
“ Ối chuyện đó xưa như trái đất rồi chú ơi. Giờ ai còn nhắc tới nữa. Bà con còn nhớ buổi gặp mới đây giữa ông Tổng Bí thơ Nguyễn Phú Trọng và bà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton không ?”
Ông Tư Gà nướng gật gật :
” Nhớ chứ ? Bữa đó tivi chiếu hai người bắt tay nhau mà …”
Gã Ký Quèn :
” Hôm đó để bày tỏ lòng thân thiện, bà Hillary mặc áo đỏ cho gần gũi với mầu cộng sản. Ngược lại, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng là cộng sản lại mặc comlê đen từ đầu tới chân …”
Cô  Phượng cave láu táu :
“ À..há…Mà sao kỳ vậy ?  Ông mặc đồ đen là ý làm sao ? Bộ bảo bà Hillary nhà đang có tang à ? Mà tang ai ? ”
Gã Ký Quèn lắc đầu :
” Không phải tang, mà là ông rút kinh nghiệm hồi thăm Cuba cứ vỗ ngực đồm độp ta đây cộng sản khiến Tổng Thống Braxin, bà Dilma Rousseff vốn ngày xưa cũng là cộng sản, nay đã ly khai, sợ quá không dám tiếp, từ chối thẳng thừng, đóng chặt cửa không cho vào . Bởi vậy lần này gặp bà Hillary ông rút kinh nghiệm tỏ vẻ ta đây không còn cộng sản nữa, ta đây là … xã hội đen đây…bán vũ khí cho ta đi…”
Ông đại tá hưu đập bàn quát :
“ Thằng Ký Quèn phản động , dám nói đồng chí Tổng Bí thơ không còn cộng sản…”
Cả quán cười ầm ầm, trừ ông đại tá hưu.
  Nhà nước  - Làm gì có Nhà nước ?
  
    Sàigòn mấy hôm nay râm mát, bà con trong xóm cười nói vui vẻ, vậy mà mới sáng sớm bên nhà ông đại tá hưu đã nghe tiếng cô Ba, cô vợ trẻ của ổng lớn tiếng xoe xoé chửi ai đó.
Ôi cha mẹ ơi, giọng cô trầm bổng, thánh thót  như hát hay vậy ? Chẳng rõ chửi ai chỉ nghe cô Ba cho ông bà ông vải nhà nó ăn đủ thứ sơn hào hải vị  mà ngay cả tụi đá cá lăn dưa  chợ Cầu Muối cũng không dám nhắc tới.
Tiếng chửi vang sang cả quán càphê khiến cô Phượng cave phải thốt lên :
“ Gớm…sao cô Ba chửi hay quá vậy. Chửi có bài có bản, có lớp có  lang , mà cổ chửi ai vậy chú Ba ?”
Ong Đại tá hưu càu nhàu :
“ Cô có chửi ai đâu ? Con Phượng cave chỉ giỏi đặt chuyện…”
Cô Phượng cave cãi :
“ Rõ ràng tiếng cô Ba đang chửi , cả quán nghe thấy đâu phải mình tui ?”
Ong Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Đúng rồi…tiếng cô Ba chửi rõ mà, cả tôi cũng nghe thấy, chỉ không rõ cô chửi ai thôi…”
Thằng Bảy xe ôm chợt cười rinh rích :
“ Tôi biết cô Ba chửi ai rồi. Cô chửi thằng Trung Quốc đó…”
Chị Gái hủ tiếu há miệng :
“ Í chết …mắc mớ gì cô Ba chửi Trung Quốc ?”
Cô Phượng cave cười rinh rích :
“ Thì tàu đ b to đùng ca thằng Trung Quốc mới vào biển Đông hỗ trợ cho  30  tàu cá xâm nhập Trường Sa đánh cướp cá của ta đó . Cô Ba căm thù quá nên mới chửi ra rả từ sáng giờ…”.
Ong đại tá hưu đập bàn :
“ Sao mày dám bảo cô Ba chửi Trung Quốc ? Trung Quốc và Việt Nam vừa là đồng chí vừa là anh em. Hôm rồi kỷ niệm ngày thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, đồng chí Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân vẫn ca ngợi 16 chữ vàng và 4 điều tốt kìa…”
Thằng Bảy xe ôm cười hô hố :
“ 16 chữ vàng thành 16 chữ ve chai rồi chú Ba ơi …”
Ong Tư Gà nướng vọt miệng chửi :
“ Tổ cha nó nói một đằng làm một nẻo, miệng nói “ vừa là đồng chí, vừa là anh em” mà đấu thầu ngay 9 lô dầu khí của Việt Nam, đòi thành lập thành phố Tam Sa . “Đồng chí với anh em” mà chơi đểu nhau vậy à ?”
Ong đại tá hưu quát :
“ Ong Tư Gà nướng không được nói bậy ? Trung Quốc Việt Nam là hai nước anh em, cùng có Đảng lãnh đạo, cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội đời nào Trung Quốc lại chơi đểu ta ?”
Thằng Bảy xe ôm chợt phá lên cười :
“ Chú Ba muốn biết thằng Trung Quốc chơi đểu ta thế nào cứ về hỏi cô Ba khắc biết ?”
 Ong đại tá hưu quát :
“ Thằng Bảy xe ôm kia, mày đừng vu vạ, cô Ba gia đình cách mạng, không khi nào cô chửi Trung Quốc …”
Cô Phượng cave chen ngang :
“ Chú Ba cứ bình tĩnh.Thằng Bảy xe ôm nói rõ coi tại sao cô Ba lại chửi Trung Quốc ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Tại tối hôm qua cô Ba coi truyền hình đó…”
Ong Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Mày nói gì kỳ vậy Bảy ? Truyền hình khi nào cũng nói theo  Đảng, luôn ca ngợi 16 chữ vàng. Đời nào cô Ba coi tivi lại chửi Trung Quốc  ? Mày đúng là ba xạo…”
Thằng Bảy xe ôm dõng dạc:
“ Vậy tối qua bà con có coi tivi vụ 4 thằng bác sĩ Trung Quốc làm chết một bệnh nhân rồi bỏ chạy không ? Rồi bao nhiêu phòng mạch Trung Quốc toàn bịp là bịp. Nào chữa được hiếm muộn, nào chữa di tinh, mộng tinh, sơ gan cổ chướng, ung thư tim, gan, phổi…Bệnh gì cũng chữa được tuốt luốt. Bà con mình cứ xúm vào cho nó cắt cổ. Cuối cùng tiền mất tật mang…”
Cô Phượng cave thắc mắc :
“ Cô Ba dính gì tới chuyện đó mà cổ chửi Trung Quốc…À phải rồi, tháng trước mày chở cổ vào Chợ Lớn mua “tử hà sa” tức rau thai nhi khô để về sắc uống chữa hiếm muộn, yếu sinh lý, rối loạn tình dục đúng không ?”
Thằng Bảy xe ôm lắc đầu  :
“ Chuyện đó nhằm nhò gì. Một gói “tử hà sa” có 250 ngàn thôi. Đằng này cổ mất mấy chục triệu cho thằng lang băm Trung Quốc nó cho uống thuốc làm tan u xơ tử cung khỏi mổ kìa. Uống cả chục thang chẳng thấy bớt, cổ mới đi khám bệnh viện Từ Dũ, hoá ra khối u xơ của cô không những không tan mà còn bự thêm. Mãi đến tối qua, coi tivi cổ mới biết mình cũng bị bọn Trung Quốc  lừa nên mới chửi tan hoang chẳng còn đồng chí đồng rận gì hết trơn…”
Ong Tư Gà nướng càm ràm :
“ Tao nghe nói bọn lang băm  Trung Quốc sang Việt Nam mở phòng mạch búa xua lừa đảo người Việt cả chục năm nay sao Nhà nước không đuổi cổ tụi nó đi ?”
Gã Ký Quèn  lên tiếng :
“ Nhà nước –  làm gì có Nhà nước …”
Ong đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng Ký Quèn kia . Sao mày dám nói “làm gì có Nhà nước,” là   sao ?”
Gã Ký Quèn gân cổ cãi :
“ Tôi nói vậy đâu có sai ? Tôi hỏi chú Ba nếu có Nhà nước sao để thằng Trung Quốc thắng thầu tới 90% hợp  đồng để rồi nó ị bậy ra đấy, công trình nào cũng dở dang, bỏ hoá ? Nhà nước đâu sao để cả vạn thằng Tàu tràn sang Việt Nam núp bóng làm công nhân mà thực chất là lính tráng, nằm chờ thời cơ là đánh úp ta ? Nhà nước đâu sao để cho Tàu chiếm hết rừng đầu nguồn ? phá nát Tây Nguyên ? nuôi cá trong vịnh Cảm Ranh ? Nhà nước đâu sao để thương lái Tàu tràn sang Việt Nam mua vét nông sản phẩm ? Còn bao nhiêu chuyện thằng Trung Quốc chơi “đểu” Việt Nam. Nhà nước mù hay sao mà không phát hiện ra ?”
Ong đại tá hưu đập bàn quát :
“ Thằng Ký Quèn kìa ? Sao mày dám nói Nhà nước ta mù, hả ?”
Cô Phượng cave cười cười :
“ Anh Ký Quèn sai rồi. Anh bảo không có nhà nước thì lấy đâu ra mà mù ?”
Cả quán cười ầm ĩ, riêng ông đại tá hưu la hét om sòm…
Tổ Quốc của đảng đâu phải của tui ?



Mấy hôm nay, sắp tới ngày “thương binh liệt sĩ” , cứ mở tivi là thấy nhớ ơn  “bà mẹ anh hùng ”, rồi  cầu truyền hình Ký ức 27 tháng 7 với các đầu cầu Sàigòn ,Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Tây Ninh. Cả quán đang coi, thằng Bảy xe ôm ngáp dài quay sang hỏi ông đại tá hưu :
“ Chú Ba…có thiệt ngày xưa “ra ngõ là gặp anh hùng” không ?”
Ong đại tá hưu trợn mắt :
“ Thiệt chớ sao không ? Không anh hùng sao đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ? Tao nói mày nghe, hồi đánh Pháp có anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, anh hùng La văn Cầu tự chặt tay mình cho khỏi vướng víu để tiếp tục cầm súng chiến đấu…”
Cô Phượng cave cười  hắc hắc :
“ Sao nghe vô lý vậy chú Ba ?”
Ong đại tá hưu quắc mắt :
“ Sao vô lý ? Con này láo. Gương anh hùng sờ sờ ra đó, sách báo ghi rõ rành rành sao mày dám bảo vô lý ?”
Cô Phượng cười  tủm tỉm :
“ Chú Ba cứ từ từ con nói cho nghe. Con hỏi chú Ba như anh Phan Đình Giót bò tới gần mũi súng nó đã bắn cho ngã gục rồi còn đâu nữa mà đứng lên nổi lấy thân mình lấp lỗ châu mai ? “
Thằng Bảy xe ôm cười lớn :
“ Chị  Phượng có lý đó…mà cho dù có lấy thân hình lấp lỗ châu mai thì thằng Pháp nó cũng lấy mũi súng mà đẩy ra chớ . Lấp sao nổi ?”
Cả quán cười  ầm ầm. Cô Phượng cave lại cất giọng véo von :
“ Con lại hỏi chú Ba, giờ chú Ba lấy dao tự chặt tay mình đi, chú Ba còn ngồi được nữa không , hay là ngất xỉu, nằm thẳng cẳng , còn sức đâu cầm súng chiến đấu ?”
Ong Ba đại tá quát lên :
“ Mày hỏi vậy đâu có được. Lúc đó lòng căm thù địch sục sôi, tinh thần cách mạng  tuôn trào, anh hùng La Văn Cầu chặt gì mà chẳng được , huống hồ chặt tay . Còn bây giờ hoà bình rồi, mày bảo tao cầm dao tự chặt tay , chặt sao nổi ?”
Cô Phượng cave cười lớn :
 “ Vậy bây giờ công an, bộ đội hết máu anh hùng rồi sao chú Ba ?”
Ong đại tá hưu hùng hồn :
“ Còn chứ sao không ? Mới hôm qua, Chủ tịch nước đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Tổng cục Cảnh sát . Rồi hồi đầu năm, Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Học viện Quốc phòng . Sao mày dám nói công an, bộ đội hết máu anh hùng ?”
Thằng Bảy bỗng ôm bụng cười sằng sặc làm ông đại tá hưu giận quá, trừng mắt :
“ Sao mày cười. Bộ mày cười tao nói dóc sao cứ cười hoài vậy ?”
Thằng Bảy xe ôm dứt được cơn cười mới lên giọng cãi :
“ Con nghe chú Ba nói dzâỵ mà không phải dzâỵ…”
Ong đại tá hưu nóng mắt :
“ Mày nói vậy nghĩa là sao ?”
Thằng Bảy xe ôm cười hề hề :
“ Tức là dòng máu anh hùng ngày nay cạn hết trơn rồi chú Ba ơi…”
“ Đừng nói tầm bậy mày.”
Thằng Bảy xe ôm trợn mắt :
“ Con nói có sách mách có chứng chớ bộ. Chú Ba có biết chuyện một ông đại tá công an phụ trách tiếp dân  nhận thư bà con khiếu kiện gửi tới. Khi mở bì thư , ổng thấy có bịch ni lông chứa chất bột màu trắng xám , sợ vãi cả linh hồn , hoa mắt, buồn nôn, cứng cả hàm cả lưỡi không nói năng được, rồi lăn ra bất tỉnh  phải đưa đi cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy …”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Vậy đã nhằm nhò gì. Hồi mới rồi công an , bộ đội tới cưỡng chế đầm tôm của anh Đoàn Văn Vươn , ảnh mới cho nổ thùng ga mà mấy cha sợ vãi đái, đứng chết trân có dám xông lên đâu ? Con hỏi chú Ba bây giờ nếu thằng Trung Quốc tấn công xâm lược nước ta chú Ba tính sao ?”
Ong đại tá hưu hùng hồn :
“ Thì toàn quân, toàn dân ta nhất tề nổi dậy, ai có súng dùng súng , ai có gươm dùng gươm, quyết chiến đấu bảo vệ Tổ quốc tới giọt máu cuối cùng…”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ í chết…súng với gươm bây giờ là đồ quốc cấm , công an thu hết rồi, lấy đâu ra mà quyết chiến bảo vệ Tổ Quốc ?”
Thằng Bảy xe ôm cướp lời :
“ Không có gươm với súng thì chiến đấu bằng…đôi chân vậy thôi…”
Ông đại tá hưu cau mày :
“ Mày nói vậy là sao ?”
Thằng Bảy oang oang :
“ Các quan cán bộ có nhà, có đất, có mấy trăm héc ta rừng mới lo, chớ người như em, một cục đất để chọi cũng chẳng có lấy đâu ra đất nước mà hy sinh tới giọt máu cuối cùng ? Đành phải…dzọt thôi…”
Ông đại tá hưu nổi giận :
“ Mày nói vậy có còn yêu Tổ Quốc nữa không ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Thì bởi Tổ Quốc là của đảng đâu phải của tui mà tui yêu ?”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Thằng kia, sao mày dám nói Tổ Quốc của đảng ?”
Ông Tư Gà nướng lên giọng dàn hòa :
“ Thì bây giờ đảng đã nói Tổ quốc phải là  Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,vậy chẳng phải của đảng thì của ai ?”
Cả quán cười ầm ầm. Ông đại tá hưu mắt tròn xoe, dựng ngược, chưa kịp mắng mỏ gì, cô Phược đã gọi toáng :
“ Kìa chú Ba…cô gọi kìa…về ngay không đĩa chén bay hết ra sân kìa…”
Ông đại tá hưu xanh mặt, chuồn vội ra khỏi quán.
Đặc sản "cứt trâu hoá bùn".

  
Ở Sàigòn hoạt động nào sôi nổi nhất ? Xin thưa : ăn. Chính xác, người Sàigòn ăn từ mờ sáng hôm trước tới hừng đông hôm sau, ăn ngay vỉa hè, xe buýt, ghế đá công viên, quán cóc, nhà hàng , ăn trong phố ăn đêm, ăn  trong chợ lúc nào cũng như ong vỡ tổ …
 Chẳng hiểu đêm qua ăn đâu về, gã Ký Quèn cười tủm tỉm rồi bất ngờ hỏi to :
“ Tôi đố bà con ở Sàigòn món gì ngon  nhất ?”
Có vẻ tối qua cô Phượng cave được các chú cán bộ Hà Nội bay vào đưa đi nhà hàng nên láu táu :
“ Vi cá mực…Í trời ơi…đang buồn ngủ ăn bát cháo vi cá mực là tỉnh táo liền … “
Thằng Bảy xe ôm cười  lớn :
“ Đang buồn ngủ chỉ cần cán bộ “bo” một vé là chị Phượng tỉnh queo cần gì tới cháo vi cá mực.”
Cô Phượng trừng mắt :
“ Mày thấy tao nhận “bo” một vé hồi nào ?”
Chị Gái hủ tíu đi tới can ngăn :
Thôi cô Phượng, nó giỡn chơi thôi. Mà một vé là nhiêu, Bảy ?”
Thằng Bảy xe ôm cười cười :
“ Một vé tức là một trăm đô Mỹ chứ mấy ?”
Chị Gái hủ tíu lè lưỡi :
“ Í mền ôi, “bo ” gì mà những cả trăm đô la. Thảo nào cô Phượng giàu nhất xóm. Mà người ta lấy đâu ra lắm tiền vầy cà ?”
Thằng Bảy xe ôm bĩu mỏ :
“ Trăm đô nhằm nhò gì. Mấy bà mấy cô vợ con cán bộ mua hàng hiệu đếm đô cứ xoèn xoẹt như ta đếm tiền Việt vậy kìa…”
Gã Ký Quèn trợn mắt :
“ Chuyện đó ai chẳng biết. Mà thôi, tôi đang hỏi Sàigòn món gì ngon nhất kìa !”
Ong đại tá hưu đập tay xuống bàn :
“ Món ngon nhất hả ? Trên đời này không gì ngon bằng tiết canh…chim sẻ ?”
Cô Phượng cave kêu lên :
Í chèn ơi…con chim sẻ bé chút xíu làm sao đánh tiết canh được chú Ba ?”
Ông đại tá hưu hãnh diện :
“ Vậy mới nói. Mỗi con sẻ người ta chỉ chọc vào ức nó một mũi kim được một hai giọt tiết thôi, cả trăm con sẻ mới được đĩa tiết canh. Ăn khó mới ngon là vậy đó…”
Cô Phượng cave la chói lói :
“ Sao có thứ người độc ác vậy ? Thánh thần đâu không vật chết tụi nó ..?”
Thằng Bảy xe ôm cười ồ ồ :
“ Ghê chưa ? Vậy mà chưa ai mời chị Phượng đứng ra lập Hội bảo vệ súc vật ở Saigòn …”
Gã Ký Quèn sốt ruột :
Thôi thôi đừng bàn chuyện tào lao . Tao đang hỏi ở Saigòn món gì ngon nhất kìa?”
Thằng Bảy xe ôm gãi gãi đầu vẻ suy nghĩ rồi cười hềnh hệch :
“ Ăn yến ăn vi gì cũng chẳng bằng…lòng lợn mắm tôm. Í mền ôi, giờ có một miếng hả, tợp một hớp đế Gò Đen thì phải biết…sướng đến tận chân tóc…”
Gã Ký Quèn quay sang ông Tư Gà nướng :
“ Thế còn chú Tư, chú khoái món nào nhất ?”
Ông Tư Gà nướng ngập ngừng :
“ Có món này tao ăn lâu rồi,  giờ không còn nữa …”
Gã Ký Quèn :
“ Món gì ghê gớm vậy chú Tư ?”
Onag Tư gà nướng cười cười :
“ Trâu luộc cả con…”
Cô Phượng cave la lên :
“ Trâu luộc cả con ? Í trời ơi…lấy đâu ra cái nồi bự vậy mà luộc nguyên con trâu ? Sao không xả ra mà luộc nồi nhỏ ?”
Onag Tư gà nướng cười to :
“Luộc nguyên con mới ngon chớ. Ngày xưa nước ta có cái nồi đó. Sau rồi mỗi thằng quan tham đục một miếng thế là mất tiêu cái nồi…”
Cô Phượng cave cau mày :
“ Quan nào ác vậy ? Đục nồi ra lấy đồng thì  còn ra cái giống gì ?”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Cô Phượng rõ thật thà. Ông Tư Gà nướng nói dzậy mà không phải dzậy. Cái nồi đồng bự vậy tượng trưng cho tài sản quốc gia . Giờ còn đâu nữa, quan tham đục hết trơn rồi…”
Cô Phượng cave nhắc :
Thôi thôi tốp cái chuyện nồi đồng lại. Giây cà ra giây muống sốt ruột. Giờ tới lượt anh Ký Quèn . Theo anh ngon nhất món gì ?”
Gã Ký Quèn ra vẻ suy nghĩ , sau cùng mới cười cười :
“ Theo tôi ngon nhất món…cứt trâu để lâu hoá bùn…”
Cô Phượng cave dài giọng :
“ Anh Ký Quèn nói vậy là sao ? Bố ai dám ăn cứt trâu hoá bùn…”
“ Món đặc sản này chỉ nước mình mới có và cũng chỉ dành riêng cho các quan thôi …”
Cô Phượng cave sốt ruột :
“ Ở đâu vậy anh Ký Quèn ?”
Gã Ký Quèn bật cười :
“ Ở …Tiên Lãng Hải Phòng chứ đâu. Mới đầu rầm rầm rộ rộ, đến cả Thủ tướng cũng phải lên tiếng. Giờ im re, để lâu cứt trâu hóa bùn đó …”
Ông Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Nói vậy thì bao nhiêu vụ lớn như PMU 18 ,VINASHIN , VINALINES . Lúc đầu ầm ĩ , sau cũng chỉ bắt mấy con tép riu  rồi hòa cả làng có dám động tới thằng đầu sỏ đâu ? Cũng cứt trâu hóa bùn hết rồi…”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Ông Tư nói năng kỳ vậy ? Vụ VINASHIN ngay đến Thủ tướng cũng đã nhận “trách nhiệm chính trị” , rồi VINALINES cũng đã khởi tố Chủ tịch HĐQT Dương Chí Dũng …sao dám nói cứt trâu hóa bùn ?”
Thằng Bảy xe ôm văng tục :
“ Trách nhiệm chính trị là cái con cặ…gì ? Có đền tiền không, có đi tù không ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Thằng Dũng nó trốn mất tiêu rồi mới khởi tố…”
Thằng Bảy xe ôm chen ngang :
“ Trốn đâu…có khi nó đang nằm Đồ Sơn ôm gái thì có…Vina “xin”, Vina “lai”…gì thì rồi cũng chìm xuống, cũng để lâu cứt trâu hóa bùn …”
Gã Ký Quèn cười ha hả :
“ Vậy mới nói nó là đặc sản ngon nhất của quan tham ngày nay mà…”
 Lãnh đạo ta đi thi Olympic (!)



                          
Mấy bữa nay xóm tôi râm ran đồn Uỷ ban Phường lập danh sách xoá đói giảm nghèo, ai thuộc diện này tháng tháng lãnh mấy triệu  tiền trợ cấp lận. Mới sáng ra, thằng Bảy xe ôm đi khách về đã ngồi quán oang oang :
" Kỳ này dân ta thoát nghèo rồi. Nghe nói ông Trương Tấn Sang đi  Nga về nó cho nhiều lắm…”..."
Cô Phượng cave cười rinh rích :
" Mày đang nói mớ phải hôn Bảy. Nếu chia tiền thì cán bộ trước , dân đứng ngó thôi …”
Ông đại tá hưu quát :
" Con cave kia, mày nói vậy là sao ? Nhà nước ta "do dân, vì dân", cán bộ ta "lo trước thiên hạ, hưởng sau thiên hạ" , tiền "xoá đói giảm nghèo" phải ưu tiên cho dân, sao mày dám nói dân đứng ngó…”
Thằng Bảy xe ôm phụ hoạ :
" Chú Ba nói đúng đó, tiền "xoá đói giảm nghèo" phải chia trước cho dân để bớt cái màn đi biểu tình , khiếu kiện đông người. Cái này kêu bằng xả sú páp ..."
Chị Gái hủ tíu sốt ruột :
" Sao cũng được, cứ có tiền là tốt rồi, như hộ nhà tôi được nhiêu ?”
Thằng Bảy xe ôm cười to :
" Í đừng vội tưởng bở. Trước tiên Nhà nước quy định thu  nhập tối đa bao nhiêu mới được gọi là nghèo . Rồi đưa ra tổ dân phố bình, lập danh sách đưa lên Phường duyệt mới may ra..."
Chị Gái hủ tíu lại hỏi :
" Như tôi nè...liệu được công nhận "nghèo" chưa ?"
Thằng Bảy xe ôm hỏi to :
" Hàng tháng thu nhập nhiêu ?"
Chị Gái hủ tiếu :
" Sao biết ? Bán cà phê, thuốc lá lai rai đủ tiền gạo mắm chứ mấy !"
Gã Ký Quèn xía vô :
" Lai rai vậy tháng cũng kiếm 5 – 600 ngàn , còn lâu mới vào loại nghèo..."
Bà Năm củ cải lên tiếng :
" Vậy tôi được  không ? Ngồi thái  củ cải gãy cả lưng, toét cả tay ngày được 20 ngàn nuôi 3 con đi học. Vậy đã được gọi là "nghèo" chưa ?"
Gã Ký Quèn lắc đầu :
" Phải tính cả thu nhập của xấp nhỏ nữa chớ bộ. Tụi nó đi học ngày có 4 tiếng còn 8 tiếng thái củ cải, tính hết cả thu nhập thì nhà bà chưa được xếp vào loại nghèo..."
Chị Gái hủ tiếu la lớn :
" Í mèn ôi, bà Năm củ cải mà vẫn chưa "nghèo" thì xóm này đâu có ai "nghèo"?"
Mọi người im thít, thằng Bảy xe ôm chợt ré lên cười hoài , cười hoài khiến cô Phượng cave gắt :
" Mày có thôi cười đi không ? Có gì cười hoài ?"
Thằng Bảy xe ôm "hích...hích" một hồi nữa rồi mới nói :
" Tôi cười  chuyện chị Gái nói xóm ta không có người nghèo đó. Có chớ sao không ?"
Cô Phượng cave kêu :
" ủa ai vậy hả ? Ai được xếp loại nghèo..."
Gã Bảy xe ôm cười to :
" Thì chính chị Phượng chứ ai ?"
Chị Gái hủ tíu phản đối :
" Cô Phượng mà nghèo...Vòng nhẫn đầy người mà nghèo ?”
Thằng Bảy xe ôm lại cười :
" Tôi nói thiệt chớ bộ. Chị Phượng nghèo quá đâu có tiền mua vải . Trên  độc một mảnh dưới một mảnh nữa, làm gì có quần có áo như người ta..."
Cả quán cười ầm. Cô Phượng cave tức quá hắt cả ly cà phê vào người thằng  Bảy làm nó la oai oái. Chị Gái cũng cười :
" Nếu vậy thì cả cô Ba vợ bác đại tá hưu cũng thuộc diện nghèo nữa..."
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
" Cô Ba vợ ông đại tá mà nghèo? Cổ nghèo thì cả xóm đi ăn mày hết..."
Chị Gái cười cười :
" Nghèo chớ sao không ? Nghèo đến độ ngày ăn có một bữa thôi kìa..."
Cô Phượng cave cười rinh rích :
" Cổ ăn một bữa để giảm ký, giữ eo . Cô Ba mà xếp vào diện xoá đói giảm nghèo thì là chuyện ngược đời xưa nay hiếm ..."
Gã Ký Quèn hứng chí :
" Thời bây giờ thiếu gì chuyện ngược đời. Như chuyện đi thi Olympic London kìa. Sàigòn có 3 vận động viên mà có tới 3 ông lãnh đạo “ăn theo”. Nào Phó Chủ tịch UBND , nào Giám đốc Sở văn hóa, nào Hiệu trưởng trường nghiệp vụ ..”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Các đồng chí đó đi để lãnh đạo sao mày dám nói “ăn theo” hả ?”
Cô Phượng cave cười cười :
“ Đúng rồi , lãnh đạo cũng đi thi chớ bộ…”
Thằng Bảy xe ôm tức tối :
“ Ba thằng lãnh đạo thi con mẹ gì ?”
Cô Phượng cave cười hắc hắc :
“ Thi “ăn cháo đá bát”, thi “chọc gậy bánh xe”, “ngậm máu phun người ““qua cầu rút ván” , “hôn giày thủ trưởng”..”.
Thằng Bảy xe ôm cười hơ hớ :
“ Í trời …Thi mấy môn đó  lãnh đạo ta giành hết huy chương vàng.
(Còn tiếp)

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Về DIỄN BIẾN HÒA BÌNH



DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH 

hay BẠO LỰC CÁCH MẠNG ?


Nhà văn Hoàng Lại Giang
Nhà văn Hoàng Lại Giang
Nhà văn Hoàng Lại Giang
HLG: “Tôi muốn gởi những dòng cuối này đến anh Nguyễn Phú Trọng, với tư cách là đồng môn – tôi học trước anh hai khoá. Tuy là học một trường, nhưng tôi và anh có hai cách tiếp cận khác về CNXH. Tôi nghiêng về CNXH dân chủ của Lassall, còn anh theo CNXH bạo lực của Lénin.”
 “Bạn bè chúng ta thời đại học nói với tôi rằng kể từ khi anh lên chức TBT đã có hơn 50 người yêu nước bị làm khó dễ, bị bắt, bị giam cầm vì nhiều lý do vu vơ.
Dấu ấn của những cuộc “Bạo lực cánh mạng”
Nếu phải chọn một trong hai hình thái trên, tôi chọn ”DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH “. Bởi “Bạo lực cách mạng“ là bước đường cùng để nhân dân bằng “sức mạnh cứng” của mình đập tan một thể chế chính trị tàn bạo, tham nhũng, một thể chế đối lập với nhân dân về mọi phương diện, trong thể chế ấy mọi quyền của dân đều bị tước đoạt và kẻ cầm quyền lộng hành … đẩy dân vào con đường cùng. Tức nước vỡ bờ, trên thực tế đây là sự đối đầu một sống một chết giữa nhân dân – kẻ bị trị và bên kia là kẻ cầm quyền – kẻ thống trị nắm giữ mọi quyền lực. Với tôi dù bên nào thắng thì vẫn gây ra những tấn thảm kịch cho nhân dân, dẫn đất nước vào chỗ suy vong.
 Nhưng nói thế không có nghĩa là tôi vô cảm với những cuộc “BẠO LỰC CÁCH MẠNG“ của nhân dân 13 xứ thuộc địa Anh cùng đứng dậy giành lại nền độc lập từ tay thực dân Anh và từ đó xây nên bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1791 ,trong đó có 10 tu chính án như đóng đinh vào lịch sử tiến hoá của nhân loại về quyền của con người và quyền của kẻ cai trị, trong đó dân có quyền “Tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo …” Và cuộc “Bạo lực cách mạng” Pháp năm 1789-1799. Tuyên ngôn nhân quyền từ cuộc “Bạo lực cách mạng” này cho tới hôm nay vẫn là điểm son mà loài người tiến bộ nhớ ơn: “…Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”“Nguyên tắc chủ yếu đặt ở chủ quyền Quốc gia. Không một tổ chức, không một cá nhân nào có thể sử dụng quyền hành mà không xuất phát từ nguyên tắc đó”.
Chính những cuộc “Bạo lực cách mạng” trên đã tước đi những quyền mang tính tuyệt đối của các nhà cầm quyền độc tài, toàn trị, sa đoạ, và buộc họ phải coi dân làm trọng.
Cách mạng tháng Mười năm 1917 là “Bạo lực cách mạng” lật đổ chế độ Sa Hoàng bằng sức mạnh cứng của nhân dân và quân đội. Nhưng cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 của ta lại là cuộc “Diễn biến hoà bình”. Con đường thành công của cách mạng tháng Tám là cuộc tuyên truyền, vận động nhân dân…và chờ thời cơ chín muồi, chuyển hoá một chính thể thực dân – phong kiến sang chính thể dân chủ cộng hoà. Xét trên phương diện rộng, thì đây chính là chọn lựa của cụ Phan Chu Trinh: Khai dân trí,  Chấn dân khí, Hậu dân sinh.
Lịch sử những cuộc chuyển hoá quyền lực
“Diễn biến hoà bình” thực chất là sự chuyển hoá tư duy. Từ tư duy cũ theo truyền thống, vận động sang tư duy mới tiến bộ hơn, hợp xu thế thời đại và hợp lòng dân hơn. Rất tiếc loài người đang ở giữa thập niên 20 của thế kỷ 21 mà một vài quốc gia như Việt Nam lại không muốn thay đổi tư duy, thậm chí muốn quay lại tư duy truyền thống theo kiểu phong kiến, nghĩa là ai giành được nước thì sẽ giữ độc quyền cai trị dân hết thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu trước đây theo kiểu cha truyền con nối thì ngày nay theo nhóm lợi ích có tôn chỉ mục đích đậm nét hình thức. Trên thực tế chính sách mị dân thuở ban sơ ấy đã mất lòng tin trong dân từ lâu lắm rồi. Quyền lực từ xưa tới nay bao giờ cũng có sức mê hoặc rất lớn, có sức hút đáng sợ, ngay cả những chính khách hay nhà văn hoá lớn cũng không dễ rứt ra được; và nếu quyền lực rơi vào tay những kẻ chủ yếu lao động bằng cơ bắp, mang “thành phần cơ bản”, thì quyền lực là mối nguy hiểm cho cả dân tộc! Và vì vậy họ rất sợ “Diễn biến hoà bình”. Những lý giải sai lệch “Diễn biến hoà bình” của họ hoàn toàn dựa theo cảm tính chủ quan, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn lịch sử. Hãy đọc lại lịch sử nước nhà để thấy “Diễn biến hoà bình” là tất yếu của sự tiến hoá loài người, không có gì phải lo sợ.
Lịch sử Đại Việt còn ghi rõ ở triều Đinh, Đinh Tuệ lên ngôi lúc 6 tuổi. Vào lúc quân Tống chuẩn bị xâm chiếm nước ta, cả triều thần tôn Lê Hoàn lên ngôi. Thái hậu họ Dương, vượt qua lệ ước dòng họ, đã đứng về phía Lê Hoàn, chấp nhận phế đế, chung lòng chống kẻ thù tuyền kiếp của Đại Việt. Cuộc phế lập trong ôn hoà của Dương Thái hậu và đình thần triều Đinh đã xoay chuyển tình thế, làm chỗ dựa cho cuộc chống Tống kết quả và đưa nhà tiền Lê vào lịch sử như một vương triều có công chống xâm lược của Đại Việt.
Cuối nhà tiền Lê, bắt đầu bằng cuộc tranh giành ngôi vương và sự bạo ngược của Lê Long Đỉnh …Triều thần tiền Lê đã sáng suốt tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Tất nhiên công đầu thuộc về nhà sư Vạn Hạnh. Không ngờ đây lại là một triều đại có tầm nhìn của trăm năm, nghìn năm, cấp tiến, để lại cho hậu thế những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể sáng giá cho đến tận hôm nay. Văn hoá đời Lý là văn hoá từ bi hỷ xả của Phật giáo. Nhớ lại cuối thời tiền Lê, xã hội Đại Việt lấy quyền lực làm quốc sách, anh em tranh giành nhau quyền lực, giết hại nhau vì quyền lực, tàn bạo, sa đọạ, dâm đãng … mới thấy Lý Thái tổ tôn vinh Phật giáo, lấy tư tưởng nhà Phật làm tư tưởng chính thống của Đại Việt là có lý do của Ngài. Con người ấy, tư tưởng ấy, tầm nhìn ấy đã không do dự dời đô về La Thành – Đại La và sau đổi thành Thăng Long. Về chính trị, ngoại giao,… Lý Thái Tổ đã tự mình làm gương, bắt các thái tử phải cầm quân ra trận. Dư âm của các sứ quân, rồi Chiêm Thành, Chân Lạp đều lo sợ không còn đất sống, phải triều cống Đại Việt để “bảo toàn đất nước và sinh mạng nhân dân”. Đại Việt bước vào thời kỳ nước yên, biển lặng, giặc Tống cũng nể sợ, muốn mà không dám gây hấn.
Vua tôi đồng lòng, đấy là thời kỳ giữa vua và dân ít có khoảng cách nhất. Suy đi ngẫm lại, phế và lập theo con đường “Diễn biến hoà bình” là cần thiết cho một xã hội tàn bạo, hủ bại, tham nhũng, hách dịch, chuyên quyền chuyển hoá bằng con đường hoà bình sang một xã hội tiến bộ hơn, tốt đẹp hơn, nhân ái và hợp lòng dân hơn mà ít tốn xương máu, thì ai lại nỡ lên án, thậm chí căm thù, dùng quyền lực mà triệt tiêu.
“Quân sư” cho “diễn biến hoà bình” ở Việt Nam là Trần Thủ Độ. Nếu không có sự tận diệt con cháu nhà Lý cho chắc vương triều Trần vô cùng dã man thì đây là cuộc chuyển giao quyền lực đẹp nhất từ vương triều Lý đang suy vong sang vương triều Trần đầy sinh lực. Lịch sử không có “giá như”, nếu cho phép “giá như” thì tôi “giá như” không có cuộc phế lập bằng con đường “Diễn biến hoà bình” này, thì Đại Việt ta chắc khó bề đương nổi với đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh đang tung vó ngựa từ Đông sang Tây. Chính trong cái hoạ binh đao Nguyên Mông thế kỷ 13, dân tộc ta xuất hiện nhiều danh tướng và hiền tài cho tới hôm nay vẫn còn là những vì sao chói sáng trên bầu trời nhân loại.
Thật là một thiếu sót, nếu lịch sử quên cuộc phế – lập, “Diễn biến hoà bình” triều đại Lê Thánh Tông. Triều Lê Nhân tông tưởng suy bởi sự tranh giành quyền lực, các nhóm triều thần gian xảo làm những cuộc đảo chính, lập thái tử Nghi Dân lên ngôi. Nhưng chỉ 6 tháng sau, cuộc “Diễn biến hoà bình”của các đại thần còn chút lòng yêu nước thương nòi đã lập Tư Thành lên ngôi, hiệu là Lê Thánh tông. Khác với các vua trước cùng thời, Lê Thánh Tông tỏ rõ bản lĩnh và đức độ của một đấng anh quân, đã khai sáng triều đại mình.
Cho đến hôm nay, là người Việt, dù có đi bốn phương trời, nhưng không ai không tự hào về đất nước nghìn năm văn hiến của mình. Nhưng cái gốc của nghìn năm văn hiến khởi nguồn từ đâu? Tôi nghĩ có thể nó bắt đầu từ đời Lý với việc định đô ra Thăng Long của Lý Thái tổ, với việc lập Văn Miếu của Lý Thánh Tông… Nét Văn hoá từ bi hỷ xả sâu đậm nhất ở thời kỳ này.
Văn hiến thời Trần là Hội nghị Diên Hồng, tìm sự đồng lòng trong công cuộc chống kẻ thù mạnh hơn ta trăm lần, nghìn lần, là “Sát thát!” với kẻ thù, là văn hoá độ lượng dung tha, gác lại quá khứ hướng về tương lai của các vua Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông sau khi thắng trận. Một nét văn hoá đậm tính nhân văn của cha ông một thời cực đẹp vậy mà ở thời hiện đại nhiều nhà lãnh đạo của chính thể mới lại e dè, lo ngại và hướng về tư tưởng bảo vệ vương triều hơn là tư tưởng nhân văn thời Trần. Điều đó tạo nên sự hận thù của người trong một nước, chứ không hề nghĩ về Hội nghị Diên Hồng, nghĩ về hai chữ “Sát thát!”, về khoan dung. Nói cách khác, ý thức hệ đã đẩy chủ nghĩa nhân văn ra khỏi tầm với của nền văn hiến có tự ngàn xưa! Mối nguy hiểm mà cha ông thời nào cũng cảnh giác là đưa đất nước xích lại gần hơn với kẻ thù và đẩy nhân dân ra khỏi tầm của Hội nghị Diên Hồng.
Nhưng nét văn hiến nghìn năm đậm nét nhất là ở văn hoá đời Lê với tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, tư tưởng “Tâm công sách” của nhà văn hoá kiệt xuất này. Sau Nguyễn Trãi là Lê Thánh tông. Đây là một vị vua để lại sau mình nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể lớn nhất trong các triều đại. Ngoài việc “định phép thi hương, sửa phép thi hội” nhằm chọn hiền tài cho đất nước, danh xưng tiến sĩ bắt đầu từ triều đại này. Trong văn bia đời Lê Thánh Tông, tiến sĩ Thân Nhân Trung để lại cho hậu thế những câu bất hủ: “… Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết.” Với 24 điều dạy của vua Lê Thánh Tông, chúng ta cảm nhận được giá trị của một nền văn hoá cốt lõi của Việt Nam hôm nay: nền văn hoá lấy dân làm trọng, quan lại là nô bộc của dân, ý dân là ý Trời. Và cũng bắt đầu từ vua Lê Thánh Tông, cương vực lãnh thổ, trên bộ, trên biển đảo được các quan sở tại trình báo chi tiết từ nơi mình ở có núi, sông, hồ, biển đảo, … lên triều đình để lập địa đồ cho nước được chính xác. Ngài còn căn dặn các tướng sĩ: 
“Ta phải gìn giữ cho cẩn thận đừng để cho ai lấy một phân núi, một tấc sông của vua Thái Rổ để lại .”
Trần Trọng Kim viết trong “Việt Nam sử lược”: “… Xem những công việc của vua Thánh Tông thì ngài thật là một đấng anh quân. Những sự văn trị và võ công ở nước Nam ta không có đời nào thịnh hơn thời Hồng Đức. Nhờ có vua Thái Tổ thì giang sơn nước Nam mới còn, và nhờ có vua Thánh Tông thì văn hoá nước ta mới thịnh.”
“Diễn biến hoà bình” không phải như những gì người ta gán ghép
Lật lại lịch sử phát triển Việt Nam ta thì “Bạo lực cách mạng” thường xảy ra khi cần lật đổ ách đô hộ của kẻ thù dân tộc, còn hầu hết những chuyển hoá các triều đại đều là từ việc phế – lập mà ngày nay gọi là “Diễn biến hoà bình”. Đấy cũng là sự vận động khách quan của quy luật. Không hiểu từ cơ sở nào mà có người lại định nghĩa: “’Diễn biến hoà bình’ là một trong những chiến lược có ý nghĩa và phạm vi toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, được hình thành từ những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50, hoàn chỉnh ở thập kỷ 80 của thế kỷ 20, nhằm chống các nước XHCN, phong trào độc lập dân tộc và phong trào tiến bộ trên thế giới…” (Báo điện tử của Đảng CSVN).
Quả thật tôi chưa bao giờ dám nghĩ có một Thánh nhân nào đó lại có thể lật đổ được CNXH ở Đông Âu và Liên Xô. Bởi lẽ các chế độ này qua một bộ máy tuyên truyền lớn nhất trong mọi thời đại đã bám rễ sâu từ trung ương đến tận hang cùng ngõ hẻm các làng xã trên 50 năm ở các nước Đông Âu và 70 năm ở Nga. Hơn một lần tôi nói trên mạng Internet rằng sự sụp đổ ấy bắt nguồn từ ý chí chủ quan của nhiều nhà lãnh đạo các nước XHCN. Chính họ đã bất chấp quy luật tiến hoá của lịch sử phát triển loài người. Sau trên 2 thập kỷ, tôi chưa thấy Đảng cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu trở lại nắm quyền lãnh đạo ở nước họ – mặc dù chế độ mới ở các nước ấy không cấm Đảng cộng sản hoạt động. Vì vậy, một Khrutsov, một Gorbachev không thể có sức mạnh siêu phàm nào để giữ cái chính quyền ra đời từ ý chí luận của các bậc tiền nhiệm! Nói cách khác, Khrutsov nhận ra tính không tưởng của thể chế mà họ đang dắt nhân dân Nga đi, nhưng đến Gorbachev nhận ra sự bất đồng quyết kiệt của nhân dân Nga với chính quyền mà ông là đại diện, và sự chuyển biến của ông nằm trong cái thế tất yếu của lịch sử.
Những cuộc “Diễn biến hoà bình” gần đây nhất là những cuộc cách mạng mang tên hoa nhài ở các nước Bắc Phi. Những cuộc xuống đường của nhân dân đã buộc những nhà lãnh đạo cao nhất, từng có thâm niên trị vì nước họ, phải từ chức, hoặc phế bỏ. Ai cưỡng lại sức mạnh của nhân dân, người đó hãy noi gương Gaddafi ở chiếc cống ngầm!
Nhưng tôi lại thiện cảm với đất nước Miến Điện. 40 năm trong chế độ quân phiệt, nhưng dân tộc này lại “Diễn biến hoà bình” theo đúng nghĩa của cụm từ trên để lột xác thành một nước tự do, dân chủ và nhân quyền đích thực, những nhà chính trị khác chính kiến đã được tự do ra khỏi trại giam và tiếp tục hoạt động trở lại. Người tù nhân tiêu biểu là bà Suu Kyi. Báo chí và xuất bản đã được tháo “vòng kim cô” định hướng, khống chế và kiểm duyệt. Dân được quyền ra báo và xuất bản, lập hội, biểu tình, … như những gì mà Nguyễn Ái Quốc đòi thực dân Pháp phải trao cho nhân dân VN từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước. Vậy mà hôm nay Quốc hội VN vẫn chưa thông qua được luật xuất bản trong đó tư nhân được lập nhà xuất bản. Còn Miến Điện thì …coi đó là chuyện tất yếu để trở thành một nước dân chủ.
Công lao vĩ đại này trước tiên thuộc về tổng thống Thein Sein.
Lịch sử các triều đại chứng minh, những kẻ nắm quyền lực, thường có xu hướng giữ chặt quyền lực, tăng thêm uy quyền để dễ trị vì dân chúng, và vì vậy trường hợp vị tổng thống đương nhiệm Thein Sein là một ngoại lệ. Hành động của tổng thống Thein Sein chắc chắn được nhân dân thế giới tôn vinh như là bậc vĩ nhân của thời hiện đại, dám chia xẻ quyền lực, đúng hơn là trao lại quyền lực về tay nhân dân, làm một tấm gương cho không ít nhà lãnh đạo một số nước đang còn mê muội bởi quyền lực, coi nhân dân như những tù nhân của chính mình dưới lớp vỏ hào nhoáng: Chính quyền của dân, do dân, vì dân!
Việt Nam thời hiện đại vẫn còn đó những tấm gương trung dũng kiên cường, học rộng tài cao chí lớn …mưu lược một thời. Ở đây tôi xin nhắc đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc. Cả ba nhà chí sĩ này theo 3 con đường cứu nước khác nhau. Phan Bội Châu thì nhờ đồng lân, đồng chủng là Nhật Bản giúp ta chống Tây. Phan Chu Trinh theo con đường “thức tỉnh nhân tâm, hợp quần, hợp xã, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, ai nấy thấy rõ ngọn nguồn, đồng tâm hiệp lực đạp đổ cường quyền …” (Thư của Phan Chu Trinh gởi Nguyễn Ái Quốc ở Marseille 18-12-1922). Còn Nguyễn Ái Quốc thì theo Quốc tế 3. Ở đây tôi không đề cập đến nội dung của hai con đường cứu nước(giữa PCT và NAQ) mà tôi chỉ nói tới phương pháp cách mạng không đồng nhất giữa hai người, cũng trong thư PCT gởi NAQ: “…từ thời xưa tới nay, từ Á sang Âu chưa có một người nào làm cái việc như anh (NAQ), anh lấy cái lẽ ở nước mình lưới giăng tứ bề, mà về nước ắt là sa cơ, gia dĩ dân tình sĩ khí cơ hồ tan tác, bởi cái chính sách cường quyền nên sự hấp thụ lí thuyết kém cỏi, bởi thế mà anh cứ khư khư cái phương pháp “ngoạ ngoại chiêu hiền đãi thời đột nội”
Nhưng cuối cùng Nguyễn Ái Quốc đã thành công. Cuộc Cách mạng tháng Tám dựng lên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cùng với Tuyên ngôn độc lập, Bản hiến pháp năm 1946 … là sự tích luỹ bao kinh nghiệm, bài học, thành quả của nhân loại tiến bộ cho tới thời ấy mà Nguyễn Ái Quốc có được.
Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là tấn công chính quốc ngay trên chính quốc. Và khi có điều kiện thì về nước. Cuộc “Diễn biến hoà bình” cách mạng tháng Tám năm 1945 đã được Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị và mai phục từ những năm 20 của thế kỷ 20. Rất tiếc sau đó cuộc “Diễn biến hoà bình” lại trở thành “Bạo lực cách mạng” do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà hôm nay chưa dễ có sự đồng thuận của nhiều nhà lịch sử, nhà khoa học, học giả trong và ngoài nước. Nhưng nhìn vào thực tế thì ai cũng thấy Quốc tế 3 thất bại và Quốc tế 2 thành công ít nhất là ở các nước Tây Âu. Lãnh tụ của Quốc tế 2 là Enghen. Những năm cuối đời, Enghen nhìn thấy sai lầm của chủ nghĩa L.A. Blanqui (lãnh đạo thuộc phái bạo lực trong Quốc tế 1): Dựa vào bạo lực cách mạng là có thể tạo ra một xã hội không có áp bức và bóc lột! “…Tuy nhiên, đừng tưởng đó là toàn bộ nền chuyên chính của toàn bộ giai cấp cách mạng tức là giai cấp vô sản, mà là chuyên chính của số ít người …số người này lại phục tùng chuyên chính của một hoặc vài người” (Toàn tập Marx-Enghen, cuốn 18, tr 580-581 bản Hoa văn). Thời hiện đại TBT Ziuganov cho rằng:“Nguyên nhân cơ bản khiến Liên Xô và Đảng cộng sản sụp đổ là sự lũng đoạn đối với tài sản, quyền lực và chân lý”. Ở đây không có kẻ thù địch và “Diễn biến hoà bình” nào cả!
Cái giá của “Bạo lực cách mạng” và nền văn hiến Đai Việt thời hiện đại
Tôi nghĩ giá như – lại giá như – chúng ta đứng trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc như hầu hết các nước ở Đông Nam Á thì biết đâu chúng ta tránh được cuộc “Bạo lực cách mạng” kéo dài suốt 30 năm cùng với những cuộc cách mạng gọi là “dân chủ” gây ra cho dân tộc chúng ta bao nhiêu cảnh nồi da xáo thịt, hàng bao nhiêu triệu gia đình tan nát, mẹ mất con, vợ mất chồng, anh mất em, những cuộc ly tán mất nhà mất cửa mất cả quê hương. Một thứ văn hoá phi văn hoá làm đảo lộn văn hoá trong sáng của người Việt được giữ gìn trong trường kỳ lịch sử, qua các cuộc giảm tô, cải cách ruộng đất, cải tao tư sản. Con người Việt thời cách mạng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù … Con tố cha, vợ tố chồng, anh tố em. Cho đến tận hôm nay kẻ thù lại mai danh ẩn tích trong “Diễn biến hoà bình”, còn chính kẻ thù đã và đang cướp biển đảo của ta thì gọi là đồng chí vàng, bạc! Thế hệ chúng tôi lớn lên trong cách mạng, số còn sống hôm nay vẫn không hiểu đây là thứ văn hoá gì? Cho đến hôm nay tôi vẫn nhớ như in lời dạy của vua Trần Nhân tông lúc tôi còn là sinh viên: “Các người chớ quên ,chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họạ lâu đời của ta là họạ Trung Hoa…”(Di chúc của Trần Nhân tông).
Cốt lõi của một dân tộc là văn hoá chứ không phải là đất rộng hay hẹp, nhiều tài nguyên hay ít tài nguyên, không phải người đông hay thưa. Tất cả chỉ là chất xúc tác để tạo ra bản sắc văn hoá của một dân tộc. Bản sắc văn hoá ấy nông hay sâu, dày hay mỏng, rộng hay hẹp, đa tầng hay ít tầng… sẽ quyết định tâm thức của dân tộc ấy. Tâm thức văn hoá quyết định sức mạnh của một dân tộc, quyết định cả sự tồn vong của dân tộc.
Chúng ta tự hào nghìn năm văn hiến là dựa trên cái cốt lõi của một nền văn hoá được vun xới, bồi đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và mở cõi của tiền nhân, tạo thành nhân cách của một dân tộc. Nhân cách ấy là bầu ơi thương lấy bí cùngtuy là khác giống nhưng chung một dàn, là lá lành đùm lá rách, là anh em như thể tay chân, là người trong một nước phải thương nhau cùng – trong ca dao, tục ngữ. Là lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo, là việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – Nguyễn Trãi. Là quyền biến, lúc bình thì khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc – Trần Hưng Đạo.
Giá trị của văn hoá là giá trị tiềm ẩn, mang đậm dấu ấn riêng của một dân tộc. Theo UNESCO thì “Văn hoá là hệ thống tổng thể những giá trị biểu trưng quy định cách ứng xử, thái độ giao tiếp của một cộng đồng và làm cho cộng đồng đó có đặc thù riêng”.
Tóm lại “Diễn biến hoà bình” xuất hiện tự thời cổ đại thường được gọi là phế – lập, khi xã hội loài người có vương quyền (có kẻ cai trị và người bị trị). Nó là sự vận động khách quan của các mối quan hệ giữa người và người, giữa kẻ thống trị và người bị trị, hoàn toàn không phải là khái niệm của “kẻ thù gần đây”. Sự vận động ấy hướng tới một định chế hợp xu thế thời đại, hợp lòng dân hơn và vì vậy nó là sản phẩm của sự tiến bộ. Nó đồng thời cũng cảnh cáo mọi sự bảo thủ, hám quyền và chuyên quyền! Bước tiếp theo của chuyên quyền là độc quyền. Từ độc quyền đến độc đoán, độc tài, quân phiệt, … là một bước ngắn. Một học giả phương Tây đã khái quát những xã hội chuyên chế rằng: “Một đất nước kỳ lạ khi nó nhìn mọi sự thay đổi như một sự tấn công, mỗi biến chuyển như là một sự giật lùi và mọi sự thích nghi như những cuộc đầu hàng” (theo báo Gilles Delafon trích trong cuốn Hello Earth).
Không một nhân dân nào chấp nhận sự chuyên chế và độc tài. Chuyên chế và độc tài là kẻ thù của nền dân chủ. Phan Bội Châu đã từng nói: “Không có dân thì đất đai không thể còn ,chủ quyền không thể lập ;nhân dân còn thì nước còn. Nhân dân mất thì nước mất. Muốn xem nhân dân còn mất thế nào thì nhìn xem cái quyền của người dân còn mất thế nào?”
Bình tâm nhìn lại, hôm nay người dân còn được quyền gì? Nhân dân có trăm tai nghìn mắt, không nhà cầm quyền nào đánh tráo được giữa sự bạo ngược và lòng nhân ái. Hồ Chí Minh đã từng lo sợ về một nhà nước mà ông là người sáng lập, đất nước ấy, dân chủ là kẻ thù của nền chuyên chính vô sản: “Các chú diễn giải hai tiếng dân chủ sao mà rắc rối, dài dòng thế? Dân chủ thực ra có nghĩa là: Để cho dân được mở miệng. Dân chủ là đừng bịt miệng dân.” Đúng, trong trường hợp này Hồ Chí Minh là một thiên tài. Ông tiên đoán chính xác sự bất bình thường của “đứa con” mà mình “mang nặng đẻ đau”.
Và vì vậy hôm nay nếu có “Diễn biến hoà bình” thì đấy chính là sự chuyển hoá một cách ôn hoà trạng thái vô tổ chức, trên nói dưới không nghe, tình trạng cát cứ có dấu hiệu phục hồi, tham nhũng, mua quan bán chức,… từ hiện tượng đang trở thành bản chất của chế độ, lòng tin của dân với đảng cầm quyền suy giảm đến mức báo động, thì sự chuyển biến ấy chính là đại phúc cho nhân dân, chứ có gì mà phải … sợ? Và dẫu anh có sợ cũng không được. Hãy gia cố con đê trước khi nước tràn! Khi nước đã tràn thì có Thánh cũng chịu!
Ổn định và trì trệ
Cái dễ của nhà cầm quyền là vui vẻ, là hài lòng trước quyền lực của mình ngày hôm nay, và mong xã hội ổn định mãi như ngày hôm nay để tiếp tục giữ quyền lực.
Cái khó của nhà cầm quyền là dám nghe những phản biện và tự vượt lên chính mình ngày hôm nay để theo kịp sự chuyển hoá khách quan của xã hội – sự chuyển hoá cần thiết cho sự tồn tại và phát triển đất nước trong đó có mình và dòng họ mình. Điều ấy lý giải vì sao ngay cả thời phong kiến nhà vua vẫn phải chấp nhận “Giám sát ngự sử” bên cạnh mình. Thực tế chứng minh vương triều nào can đảm lắng nghe lời can gián, những lời “nghịch nhĩ” điều chỉnh phương pháp trị dân của mình thì xã hội lành mạnh hơn. Đấy mới là sự ổn định thực thông qua “Diễn biến hoà bình” chính tư duy của mình. Không ít nhà lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam chưa nhận thức đúng học thuyết Marx về ổn định đồng nghĩa với trì trệ. “Thực chất cách mạng của phép biện chứng duy vật không dung hoà với bất cứ sự trì trệ và bất động nào, làm cho phép duy vật trở thành công cụ cải tạo thực tiễn xã hội, giúp tính toán một cách khách quan tới những yêu cầu lịch sử của sự phát trển xã hội, tình trạng những hình thức cũ không phù hợp với nội dung mới, sự cần thiết phải chuyển đến những hình thức cao thúc đẩy sự tiến bộ của loài người…” (Từ điển triết học – nxb VH TT 2002, tr 84).
Hãy nhìn sự ổn định của xã hội VN và các nước theo chúng ta là không ổn định như Thái Lan, Nhật Bản,… thì ai cũng dễ đồng tình xã hội của họ vẫn phát triển vượt xa chúng ta nhiều, nhiều lắm.
Chúng ta đánh đổ phong kiến, chúng ta đánh đổ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đâu phải để xây dựng một xã hội ổn định theo kiểu không có phản biện hay phản biện giả. ( Phản biện giả là phản biện có sự lãnh đạo của đảng cầm quyền.) Có ai đó chê Hoàng đế Quang Trung là độc tài quân phiệt, nhưng tôi chưa thấy tài liệu nào nói Ông bắt giam, bỏ tù một ai mắc tội vu khoát. (Trong Chiếu cầu lời nói thẳng Quang Trung mong nhận được những lời nói thẳng, nói thực, không bắt tội vu khoát một ai). 
Vậy mà hôm nay chính tôi lại nhìn thấy bao nhiêu người yêu nước bị bắt, bị giam cầm chỉ vì yêu nước mà không chịu yêu CNXH, chỉ vì có chính kiến khác với chính thống. Trong thực tế Marx chưa bao giờ đồng nhất yêu nước và yêu CNXH! Và với CNCS, Marx cũng chỉ dám dự đoán thôi.
Những nhà lãnh đạo hôm nay nên dũng cảm nhìn thẳng vào thực tế để thấy phong kiến và đế quốc thối nát thực, nhưng chúng nó vẫn cho những người yêu nước, những người cộng sản ra báo tư nhân, lập nhà xuất bản tư nhân, dân được lập hội và biểu tình phản đối chúng nó. Năm 1925 Phan Chu Trinh từ Pháp về Sài Gòn, và sau đó không lâu ông tổ chức diễn thuyết lên án chính quyền. Năm 1925 cụ Phan có ít nhất 2 lần diễn thuyết ở Sài Gòn. Và ngày 26 tháng 3 năm 1926, khi ông qua đời, gần một nửa dân Sài Gòn đi dự đám tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh mà không ai bị bắt bớ, tù đày. 96 năm sau ngày cụ Phan ra đi vĩnh viễn, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm giữa thềm nhà hát Lớn Sài Gòn lên án Trung Quốc xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền VN thì bị công an xua đuổi cùng nhiều trí thức tên tuổi như nguyên Viện trưởng Viện xã hội học Tương Lai, kiến trúc sư Trọng Huấn. Hai thể chế đối lập ấy, người dân thường cũng biết đối chiếu so sánh dễ dàng huống chi là những trí thức tầm cỡ như GS Hoàng Tuỵ, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, GS Phan Đình Diệu, GS Ngô Bảo Châu, nhà văn Nguyên Ngọc, GS Nguyễn Huệ Chi, GS Tương Lai, BS Huỳnh Tấn Mẫm, … để từ đấy lãnh đạo nhà nước hôm nay nên coi “Diễn biến hoà bình” hoàn toàn không phải là kẻ thù địch nào cả mà sự trì trệ trong chính những nhà lãnh đạo của Đảng CS, là phương sách chuyển hoá tư duy chính mình và chuyển đổi xã hội phù hợp quy luật khách quan thì tự khắc lòng dân lại thuận.
Một thời chúng ta đã từng quy kết và dùng nhục hình dã man với bao nhiêu người có công với cách mạng, những dân oan vô tội, tôi mong những người nắm quyền lực hôm nay đừng đẩy những người yêu nước vào cái gọi là bọn thù địch “Diễn biến hoà bình” mà rơi vào những sai lầm đã khắc vào lịch sử trong quá khứ chưa xa những tội lỗi trời không dung đất không tha!( cụm từ của Nguyễn Trãi).
Thay lời kết
Tôi muốn gởi những dòng cuối này đến anh Nguyễn Phú Trọng, với tư cách là đồng môn – tôi học trước anh hai khoá. Tuy là học một trường, nhưng tôi và anh có hai cách tiếp cận khác về CNXH. Tôi nghiêng về CNXH dân chủ của Lassall, còn anh theo CNXH bạo lực của Lénin. Nhưng tôi không nói chuyện đúng sai ở đây. Ở đây tôi chỉ mong với tư cách một người lãnh đạo Đảng, anh cố gắng giữ cho xã hội dưới thời anh trên dưới đồng lòng, coi dân làm trọng, xoá cách biệt giữa dân với Đảng, hết sức tránh dùng cường quyền và bạo lực đối với những người yêu nước khác chính kiến. Muốn vậy chính anh và những đồng chí của anh phải tự mình chuyển hoá tư duy hoặc là chấp nhận “Diễn biến hoà bình” (Không phải Diễn biến hoà bình theo định nghĩa của báo Điện tử ĐCS, mà theo truyền thống, hợp xu thế). Đấy là hai con đường ôn hoà nhất để xây dựng một xã hội lành mạnh và hợp quy luật khách quan .
Tôi tin anh làm được bởi trước anh đã có Trường Chinh một thời thiên tả, cứng nhắc, rồi đã tự phủ định mình hôm qua. Thời ấy kinh tế thị trường là cụm từ cấm kỵ, đồng nghĩa với xét lại. Ai dính vào cái “mũ” này thì coi như cuộc đời chấm dứt. Nói như thế để thấy vai trò vô cùng quan trọng của cụ Trường Chinh. Tôi mong anh học tập cố TBT Trường Chinh và mới đây là Thein Sein – người vừa được báo Straits Times Singapore tôn vinh nhân vật của châu Á năm 2012.
Bạn bè chúng ta thời đại học nói với tôi rằng kể từ khi anh lên chức TBT đã có hơn 50 người yêu nước bị làm khó dễ, bị bắt, bị giam cầm vì nhiều lý do vu vơ. Xã hội hôm nay dưới quyền anh làm tôi nhớ lại thời Nhân văn Giai phẩm ở trong nước thời hiện đại, và thời cổ đại Trung Hoa tôi lại nhớ thời Tống Thần tông, Vương An Thạch làm tể tướng. Vương là một người học rộng tài cao, một nhà thơ uyên thâm. Vậy mà dưới thời Vương An Thạch kẻ sĩ bị bắt, bị đi đày nhiều nhất. Một thi nhân như Tô Đông Pha chỉ vì không đồng chính kiến với Vương An Thạch mà gần suốt cuộc đời phải chịu đi đày, có lúc đói quá phải “hớp nắng” để đỡ đói trên đảo Hải Nam. Trên cái nền này tôi có viết cuốn “Thăng trầm Tô Đông Pha” (Nhà XB Văn nghệ TP HCM năm 2000) với hy vọng những nhà lãnh đạo VN hôm nay lấy đó làm bài học. Nhưng dường như người ta nghĩ nhiều về quyền lực và quyền lợi mà nhẹ về văn hoá – văn hoá đời Lê lấy chí nhân thay cường bạo, văn hoá đời Trần lấy khoan dung làm trọng.
Tôi nay đã ngoài 70, không hề biết sợ chết, chỉ sợ trước khi chết mà vẫn phải nhìn đất nước như thời Vương An Thạch!
Chắc anh thừa biết lịch sử không quên công lao một ai và lịch sử cũng không bỏ sót tội lỗi một ai.
H.L.G.
Theo ABS và Blog Quechoa

VĂN GIANG (thơ LTT)





Văn giang - Dòng sông văn

Người đi lên từ đất
Văn thăng hoa từ người

Đất - Người - Văn liền một



Vững bền tự xa xưa

Làng nay không còn ruộng

Làng biết gọi là gì

Câu ca dao buồn tủi 



Thương cánh cò bay xa

Không còn nơi neo đậu

Ecopak mọc lên

Trên nỗi đau của Đất



Trên hn căm của Người

Dòng sông Văn uất nghẹn

Mai này trôi về đâu

Đau đáu kêu quốc quốc

Thơ LTT

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Môn thể thao phát triển (chuyện vui)

Trương Tuần
Theo Trannhuong.com

  

 

Phạm Duy và Bạn thơ C3

(Trích Vang vọng một thời - Mùa hè 2012)

Hữu Dũng & Ngân Vi

Kỳ 7: Chút gì để nhớ


Người yêu thơ nói, nhờ Vũ Hữu Định mà Pleiku thành danh phố núi. Người yêu nhạc thì lại tin rằng, Phạm Duy đã đem phố núi đến với đông đảo công chúng khi phổ nhạc vào thơ. 

Người ta nghe trong đó tiếng gió, tiếng suối, tiếng đá, tiếng cây rừng... Âm thanh trong trẻo và phóng túng của đại ngàn tràn ngập trong một bài hát mà lạ lùng thay, ca từ lại mềm mại như sương. Còn chút gì để nhớ của nhà thơ giang hồ Vũ Hữu Định kết hợp với những nốt nhạc tài hoa của nhạc sĩ họ Phạm, đã biến một phố nhỏ vùng cao buồn tênh thành một trong những địa danh lãng mạn nhất của thi ca Việt Nam.
Những cuộc tao ngộ với thi nhân đã đem lại nhiều cảm xúc khác nhau cho Phạm Duy. Một điều khiến người yêu cả nhạc và thơ mến mộ, đó là trong hầu hết trường hợp, Phạm Duy chưa bao giờ làm biến dạng hồn vía của bài thơ. Thậm chí, bài thơ càng như được chắp cánh để bay về hướng mặt trời, long lanh tươi mới. Đơn cử Ngậm ngùi của Huy Cận - bài thơ lục bát với nhịp điệu chậm rãi, sau khi được phổ nhạc đã trở thành một kiệt tác, được bao nhiêu thế hệ ca sĩ hát từ hàng chục năm nay. Để làm được điều đó, hẳn Phạm Duy phải có một sự đồng cảm đặc biệt với các nhà thơ để nắm được tận cùng ngóc ngách vi diệu nhất của từng câu chữ, như ông từng nói về Ngậm ngùi:  "Nguyên bài thơ đã là một giao lưu giữa thơ Đường và thơ lục bát Việt Nam rồi... Về phương diện thẩm âm, thẩm mỹ, bài đó xưng tụng một cái đẹp sắp sửa mất, đang mất hay sẽ mất, với lời thơ êm ả, bùi ngùi, thương tiếc, với nhạc điệu ôm ấp, vỗ về, an ủi. Hãy trả lại chúng tôi mộng bình thường mà có lẽ chúng tôi đã, đang hay sẽ mất”.

 Chút gì để nhớ Vũ Hữu Định - Ảnh: tư liệu
Trở lại Còn chút gì để nhớ và mối duyên kỳ lạ của Phạm Duy với nhà thơ Vũ Hữu Định, Phạm Duy hồi tưởng:
“Năm 1972, tôi đi Pleiku để nghiên cứu nhạc Tây Nguyên. Trong một tuần lễ ở đó, tôi được gặp vài nhà thơ trẻ bị động viên đang đóng quân tại miền biên giới này. Lúc đó tỉnh lỵ Pleiku còn nhỏ hẹp lắm. Một nhà thơ trẻ, Vũ Hữu Định, đã mô tả cái thành phố đi dăm phút đã về chốn cũ... trong một bài thơ rất dễ thương. Tôi phổ nhạc ngay lập tức, không thêm thắt hay sửa đổi một chữ nào trong bài thơ. Cũng vì tôi đang nghiên cứu nhạc Thượng nên tôi dùng ngay ngũ cung có bán - cung (do mi fa sol si do) trong phần giai điệu.
Phố núi cao, phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương.
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên tóc em ướt và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều buông.
Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Ði dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng
Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên

(Vang vọng một thời - mùa hè, 2012).


Còn chút gì để nhớ của nhà thơ giang hồ Vũ Hữu Định kết hợp với những nốt nhạc tài hoa của nhạc sĩ họ Phạm, đã biến một phố nhỏ vùng cao buồn tênh thành một trong những địa danh lãng mạn nhất của thi ca Việt Nam



Có lẽ, mối duyên của nhạc sĩ Phạm Duy và nhà thơ Vũ Hữu Định chỉ đan kết qua thơ nhạc, giống như chính cái tên bài hát vậy: Còn chút gì để nhớ. Cuộc gặp gỡ thì ngắn ngủi. Đến lúc Phạm Duy trở về sống ở quê hương thì Vũ Hữu Định đã tạ thế lâu rồi. Thế nhưng, cho tới tận bây giờ, ông lão 93 tuổi Phạm Duy vẫn nhớ y nguyên dáng vóc của Vũ Hữu Định thời bấy giờ. Trong con mắt Phạm Duy, thi sĩ gốc Huế họ Vũ, tên thật là Lê Quang Trung (1942-1981) là người hồn hậu, song cách nói chuyện thì không giống ai cả. Lần đầu gặp gỡ Phạm Duy, trên khuôn mặt của Vũ Hữu Định có chút ngượng ngùng, bối rối, nhưng chỉ được một lát sau là bộc lộ vẻ sảng khoái ra liền. Hai người ngồi uống trà đàm đạo. Hỏi nhạc sĩ Phạm Duy: “Lên Tây nguyên mà uống trà ạ?”. Ông cười, bảo: “Tại tôi không biết uống rượu nên được tha”. Một cuộc trà đậm hương rừng núi bạt ngàn…
Nhiều người cho rằng, tên tuổi Vũ Hữu Định bắt đầu phổ biến khi bài thơ Còn chút gì để nhớ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Thực tế, chính Phạm Duy cũng không ngần ngại thừa nhận đóng góp lớn lao từ bài thơ đối với sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc của ông. Phạm Duy khẳng định: "Vũ Hữu Định đã đưa tôi đến âm nhạc của miền sơn cước". Cả đời Phạm Duy say mê tìm hiểu nhất là những giá trị thuộc về văn hóa dân tộc. Mặc dù được học hành ở Pháp, nhưng giống như lời Giáo sư Trần Văn Khê, Phạm Duy biết chọn lọc giữa mới mẻ và truyền thống. Việc phổ nhạc cho thơ cũng là một cách thể hiện sự trân quý giá trị văn hóa của ông. Phạm Duy đã có rất nhiều trường ca, tổ khúc nổi tiếng. Không ngừng lại ở đó, ông đã và đang ngày đêm miệt mài hành trình gieo tiếng nhạc cho thơ. Có thể nói, riêng về lĩnh vực này, Phạm Duy được xếp ở vị trí bậc thầy trong làng tân nhạc Việt Nam.
Năm tháng trôi đi, ẩn sau mỗi khuôn nhạc, bao mối tình tri âm tri kỷ vẫn còn rưng
rưng lay động tâm hồn người yêu nhạc…