Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

KÊU GỌI QUỐC HỘI HỦY BỎ ĐIỀU 88

Cập nhật: 11:49 GMT - thứ bảy, 29 tháng 12, 2012

Văn bản được đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam đề cập Điều 88 về “tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” và Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ “quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”.

Theo các tác giả lá thư, điều 88 “quy định một cách mù mờ về tội danh tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam, thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận đã được Hiến pháp Việt Nam và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị ghi nhận và bảo đảm”.

“Việc người dân phản biện, phê phán Nhà nước, kiến nghị về luật pháp về chính sách, về bộ máy nhà nước… là những việc làm cần thiết và thường xuyên trong một nhà nước dân chủ, để xã hội tiến bộ.”
“Nhưng với Điều 88 Bộ luật Hình sự, công dân có bất cứ hành vi nào như vậy cũng có thể bị trừng trị,” tuyên bố viết.

Lá thư nói tiếp: “Nhiều công dân Việt Nam đã và đang bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị án tù về tội danh này, khiến cho lòng dân bất bình, thế giới chê trách việc thực hiện nhân quyền ở Việt Nam.”

Các tác giả của lời kêu gọi cũng yêu cầu hủy bỏ Nghị định 38/2005/NĐ-CP vì cho rằng đây là “nghị định cấm biểu tình được ban hành trái thẩm quyền và có nội dung vi hiến”.

Trong phần kết, văn bản “yêu cầu Chính quyền trả tự do cho tất cả những tù nhân công khai bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hòa mà đã bị quy vào tội danh theo Điều 88”.

Trong số những người ký tên có nhiều tên tuổi như giáo sư Nguyễn Huệ Chị, giáo sư Hoàng Tụy, kinh tế gia Lê Đăng Doanh, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Giới văn nghệ có những người như Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân.

Không ít người từng làm trong ngành báo chí cũng ký‎ tên như Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động, Nguyễn Trọng Huấn, nguyên Tổng biên tập báo Kiến trúc và Đời sống, Kha Lương Ngãi, nguyên phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng.

(Theo BBC)

Văn tế sống quan tham

Ngọc Châu
(Bài đã đăng trên Trannhuong.com)

Hỡi ơi!
Ba sáu tàn vàng
Lẽ nào vứt bỏ.
Dẫu bao năm ngang dọc, chốn triều đình danh nổi như phao;
Vài đận tính sai cơ, tiếng quan tham mãi vang như mõ!

Nhớ oai  xưa
Quê mẹ đất nghèo
Dân cùng nước khổ
Trải bao trận mạc, cấm vận triền miên
Đói nghèo nhìn nhau, bữa cơm bữa củ.
Bán quán, bơm xe, nắm than, bổ củi, tay vốn quen làm;
Xế hộp, mô bai, khách sạn, nhà hàng, mắt chưa từng ngó.
Thấy nước người đổi đời trong thập kỉ, lòng những mong chóng mọc vẩy rồng;
Chịu nghèo hèn khốn khó mấy chục niên, bụng ao ước mau mang lốt hổ.
Ngó thấy tiền Tây xanh tím đỏ, chỉ muốn vơ ngay
Nhìn vào xe Mĩ phóng tít mù, ước tư bản đổ!
Trước cảnh nước nhà hèn kém, chẳng lẽ ngồi đầu gối quá tai;
Gió đông đà nhụt gió tây, thôi thì cũng rỡ rào mở cửa.
Pu tủng* luật này lệ nọ, gan cùng mình dốc sức ngoáy trời (* Không hiểu - gốc tiếng Tàu)
Mo phú* nợ cháu con lo, vốn nào cũng vơ vào đầy rổ. (* Cóc sợ - gốc tiếng Pháp)

Cũng khen thay!
Vốn chẳng dòng kinh bang tế thế, gốc từ vệ túm mà ra;
Phẫu thuật da "tiến sĩ công nông", nhoáng cái tước cao đã bổ.
Ngón kinh tế thị trường nào đợi tập rèn;
Nghề định hướng kinh doanh kiệm thời gian ngó.
Ngoài vỏ khoác rừng vàng biển bạc, thoải mái đào với bắt, khỏi bàn;
Trong tay gom triệu sức lao công, lương chỉ góc tiền "đô", quá đủ!
Đất đai cứ tha hồ bán đổi, cũng lôi vào khối nước Tây, Tàu.
Ruộng vườn đền giá rẻ như bèo, khéo dỗ dân đà vui hớn hở.
Ba chục năm đổi mới, may phùng thời thế, lướt tới ào ào, cũng gặt về vô khối thành công;
Triệu dân nông thay đời, dù mếu dù tươi, cuốc cầy phăng phăng, khiến sản vật dần thêm béo bở.
Tạo liên doanh, xây siêu thị, thổi phố phường ngày một phình to;
Ủi sân gold, san chế xuất, kẹp đồng bãi hết phương nẩy nở.

Chao ôi!
Những tưởng vận đỏ đến hồi, cừu dê chuyến này hóa hổ;
Nào hay dân đen khốn khổ, lươn trạch sao giống được rồng?
Vốn tại máu tham ẩn trong tâm, thấy vàng đời nào chịu bỏ.
Ngó sang Tiên Lãng, sú vẹt mấy dặm sầu giăng;
Nhìn bãi Văn Giang, già trẻ hai hàng lệ nhỏ.
Chẳng phải du côn, cao bồi Mĩ quốc, mà to gan chống lại lính triều đình;
Vốn không phá nhà, cướp đất của ai, mà chịu còng tội tù cho đáng số!

Ấy bởi!
Trên sao dưới vậy, tâm xà đeo mặt từ bi;
Quan đã mở đường, ắt nhũng nhiễu quân lệ bộ.
Nhóm đại gia dựa hơi cấu kết, lợi ích chia phần;
Mặc thảo dân nhà cửa tan hoang, xiêu mưa ngã gió.
Rừng nguyên sinh bao nhiêu gỗ tốt, chia phần nhau tha hồ đốn, đổ tội tặc lâm;
Mỏ hiếm quí ngồn ngộn bạc vàng, xúi họ hàng mặc sức đào, giấy gì chẳng có!
Chúng dân cứ kêu ca oán thán, kêu chán rồi cũng đến thôi;
Triều đình biết mà phải chịu thua, chứng cớ đâu đành tay bó.

Vậy nhưng!
Cứ tưởng trăm bề kín thế là cùng, lại thêm phên che rào chắn khắp nơi;
Kính Chiếu yêu đà mỡ bôi đen bóng, Thiên Lí Nhỡn chắc nản lòng đành bỏ.
Cho nên ngân khố cứ việc đem tiêu, quẳng vàng đổi về bấy nhiêu tầu nát;
Thả sức tiền gian vung xây phủ đệ, rải bạc tạo đường mê lộ ngân kho.
Kệ đau đớn bấy: bà già ngồi run rẩy, nóc chuồng trâu lũ lụt vây quanh;
Mặc não nùng thay: trẻ chân đất đến trường, rét đại hàn phong phanh dúm dó.

Thế rồi!
Hội Diên Hồng đột ngột nổ ra,
Khiến chúng dân xốn xao ngóng ngó.
Binh tướng tham vẫn giữ sông Tô Lịch, võng lọng cụp nhưng còn khối ô dù;
Lương đống thiện tuy lùa gió Hồng Hà, chưa đủ mạnh để khử mùi thối chó.
Đấu mà trả nước non bớt nợ, danh thơm đồn sáu mươi tư tỉnh đều khen;
Ngậm để giữ vẹn ghế nguyên ngai, mùi khắm ngấm ba đời cháu con còn đó.
Dân mở miệng, được nói được nghe, trăm triệu người ủng hộ triều đình, trò tham nhũng  lắm chuyện phanh phui;
Dám vì dân, thiệt cũng vì dân, dầu cáo quan nhận trăm mét đất, đức thanh liêm tắt đèn vẫn tỏ.
Khá khen người nhóm lửa, dù bếp ẩm, củi khô lẫn với củi tươi, kiên nhẫn quạt khói đều tay, dần dà lò sẽ  rực hồng.
Đáng ngợi đám thảo dân, chí đã đồng, gian tặc dù ẩn thật sâu, lò bỏng cũng cháy mặt lang, cáo già hết đường giả thỏ.

Ôi thôi thôi!
Trận địa mở toang;
Chúng dân đều rõ
Bạch tuộc kia rồi phải co vòi;
Quan tham sẽ về vườn cắt cỏ.

Thôi thì thế cũng là may;
Còn hơn vô tù ngóng cổ.
Dẫu xác còn ngất ngưởng, nhưng linh đã hết oai linh;
Gọi là kết cỏ đền bù, hạ trướng nguyện đền ơn chủ
Tàn vàng (mã) đủ ba sáu tàn vàng;
Xế sịn (mã) nhập loại hàng nguyên thủ.
Nổi lửa thật to;
Hóa theo cho đủ;
Mao đài vẩy cả chai;
Át hết mùi cáo cú…

Ô hô, ai tai!
Đàn em tiễn cụ!!!


Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Phóng sự về "người rừng" Trần Ngọc Lâm (kỳ 7-10)

Phóng sự về "người rừng" bị ung thư Trần Ngọc Lâm

Kỳ 7: Sống cùng thú hoang

Ngày đó, đại ngàn Hoàng Liên Sơn còn vô cùng hoang vu, ngoài con đường chinh phục Fansipan từ bản Cát Cát, thi thoảng mới có người lên, thì hầu như chưa có dấu chân người. Chính vì thế, thú rừng còn rất nhiều.

Ở một cái hang nhỏ, giống như khe nứt của quả núi, phía trên hang ông trú ngụ, là “ngôi nhà” của bầy khỉ.

Sáng sớm tinh mơ, bọn khỉ đã hót ríu ran gọi bầy dậy đi kiếm ăn. Con khỉ đực đầu đàn lớn nhất dẫn cả bầy rời hang. Cứ lần lượt từng con nhảy ra khỏi khe nứt giữa hai khối đá lớn. Ông Lâm đếm tổng cộng được 50 con lớn nhỏ.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Hang đá nơi ông Lâm sống cùng bầy khỉ và gia đình gấu 
Bình thường, hễ thấy tiếng người, bọn khỉ chạy xa, nhưng không hiểu sao chúng lại không sợ ông Lâm. Ông Lâm nói đùa rằng, lúc đó, quần áo rách rưới, râu tóc xồm xoàm kín mặt, nên trông ông cũng không… giống người lắm. Có lẽ chúng tưởng đồng loại, nên không sợ. Nhiều lúc, ông ngồi thiền trong hang, bọn khỉ tò mò lại gần ngó nghiêng, thậm chí trêu ghẹo làm ông mất tập trung.

Bọn khỉ đặc biệt thích nghe tiếng sáo trúc. Chiều tà, khi mặt trời lặn phía bên Lai Châu, chiếu ánh nắng xuyên qua lớp mây ửng hồng, cảm thấy cô đơn, ông lại lôi chiếc sáo trúc tự tạo ra thổi. Mỗi khi tiếng sáo cất lên, bọn khỉ lại tìm đến, đứng lố nhố ở cửa hang, đu trên cây ngồi nghe như khán giả.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Cảnh đẹp Hoàng Liên Sơn 
Có bọn khỉ ở bên, ông Lâm cũng bớt buồn. Hàng ngày, ngoài lúc lấy thuốc, ông thường đi dọc đoạn đường lên Fan, để nhặt nhạnh những mẩu bánh mì, lương khô, thức ăn rơi vãi của khách leo núi, mang về cho bọn khỉ.

Tuy nhiên, lắm lúc, bầy khỉ cũng gây phiền phức cho ông. Nhiều khi, đi rừng về, thấy xoong nồi, bát đĩa mất sạch. Ông lại phải tìm lên hang khỉ đòi về. Mấy chiếc xoong, chảo đều méo mó do bọn khỉ dùng làm… trống.

Bên kia mỏm núi, đối diện với hang ông Lâm và bầy khỉ ở, cách khoảng 200m đường chim bay là nơi trú ngụ của gia đình gấu ngựa.

Cái lần ông có kỳ duyên với gấu ngựa cũng rất lạ lùng. Hôm đó, là buổi sớm, mặt trời mới ló dạng dưới chân núi, ông Lâm đang ngồi thiền, thì choàng tỉnh bởi tiếng gừ gừ.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Thi thoảng ông Lâm lại trèo lên ngọn cây để tìm bầy khỉ 
Mở mắt, ông chợt rùng mình, khi ngay trước mặt, chỗ miệng hang, cách nơi ông ngồi độ 5m, là con gấu ngựa rất lớn, cỡ tạ rưỡi đang nhìn ông chằm chằm.

Là người đi rừng nhiều, hiểu tập tính các loài vật, nên ông Lâm bình tĩnh, không bỏ chạy, cũng không tìm cách phòng thủ. Trong số các loài vật trong rừng, thì gấu là loài nguy hiểm nhất.

Người đời thường sợ hổ, nhưng thực ra, hổ là loài rất nhát. Chỉ nghe tiếng động, ngửi thấy hơi người, là chúng chạy trốn từ xa. Riêng gấu, tuy chậm chạp, nhưng thường núp trong bụi rậm và xông ra tấn công người.

Nhưng trước khi tấn công người, chúng thường quan sát thái độ của con người. Nếu tấn công nó, thì nó sẽ tấn công lại, bỏ chạy nó đuổi theo, còn bình tĩnh đối phó với nó, thì nó sẽ bỏ đi.

Sau phút rùng mình, ông lấy lại bình tĩnh. Trong hoàn cảnh bệnh tật đầy mình, tay không ông còn hạ được 4 tên giang hồ tay dao tay kiếm, thì con gấu này không phải đối thủ của ông. Tuy nhiên, ông muốn làm bạn với nó, nên ông giữ nguyên tư thế tọa thiền. Ông mở mắt nhìn nó chằm chằm.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Ông Lâm phải mất cả năm trời đi tìm mới thấy gia đình gấu ở mỏm núi phía Tây đỉnh Fansipan 
Con gấu gầm ghè nhìn ông vài phút, thấy ông không nhụt chí, sợ hãi, nên nó ngó ngoáy đầu, nhìn đi hướng khác, rồi lững thững bỏ đi. Ông Lâm ra khỏi hang, nhìn theo con gấu, thì thấy nó chui vào cái ở mỏm núi bên kia.

Đến trưa, khi ông đang thổi lửa nấu cơm, thì lại gặp một con gấu nữa lững thững đi về phía hang, nơi con gấu ông gặp lúc sáng đang ngủ. Khi đó, ông Lâm mới biết, hang đá chính là nơi ở của vợ chồng nhà gấu. Vợ chồng nhà gấu cứ đi kiếm ăn vài ngày, mới lại mò về hang ở.

Hàng tháng trời ông Lâm tìm cách thân thiện với vợ chồng nhà gấu, song không ăn thua. Khi ông lại gần, chúng gầm gừ nhìn với ánh mắt dữ tợn, rồi cúp đuôi bỏ đi.

Cứ vài ngày, ông lại mang đồ ăn thừa du khách bỏ đi như bán mì, bánh ngọt, hoa quả, đặt ở cửa hang gấu. Thậm chí, ông bắt tổ ong đầy mật đặt ở miệng hang. Tuy nhiên, vợ chồng gấu chỉ ngửi đồ ăn, rồi làm ngơ, không thèm ăn.

Không nản lòng, ông Lâm cứ kiên trì mang đồ ăn cho vợ chồng gấu. Phải đến mấy tháng sau, có lẽ thấy ông Lâm không phải kẻ thù, nên vợ chồng nhà gấu mới ăn đồ ông Lâm mang đến. Vợ chồng nhà gấu cũng tỏ ra thân thiện hơn với ông Lâm. Tuy nhiên, chúng vẫn không đến gần ông như bầy khỉ.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Khi ông Lâm thổi sáo, bầy khỉ sẽ tìm đến 
Mấy năm trời sống như hàng xóm với cặp vợ chồng nhà gấu, ông Lâm hiểu khá kỹ tập tính của loài gấu. Gấu là loài khá hiền lành, trầm tính và kín đáo. Tuy nhiên, chúng lại rất cục tính. Chúng sẽ trở nên cực kỳ hung dữ và nguy hiểm khi con người tìm cách tấn công chúng.

Hiểu về loài gấu, nên đã có hàng trăm lần ông Lâm giáp mặt gấu trong các chuyến vào rừng sâu, nhưng chưa lần nào ông gặp nguy hiểm. Đường gấu gấu đi, việc ông ông làm, không để ý đến chúng, không tấn công chúng, thì sẽ không gặp nguy hiểm.

Mấy năm sống trong hang, ông Lâm đã chứng kiến nhiều lần gấu cái trở dạ sinh ra đàn gấu con. Ông Lâm để ý và thấy rằng, gấu bố không ở cùng gấu con, không chăm sóc gấu con. Khi gấu mẹ sinh gấu con, gấu bố tìm ổ riêng để ở, cách “nhà” mấy chục mét. Khi gấu con trưởng thành thì chúng đi tự đi tìm cuộc sống khác. Chú gấu con nào không tự động đi, thì gấu bố cũng đuổi đi.

Đến bây giờ, nhắc lại đàn khỉ và gia đình nhà gấu, ông Lâm vẫn buồn. Ông bảo rằng, chính ông là người có lỗi với gia đình gấu và đàn khỉ, khi vì ông mà chúng phải bỏ đi.

'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
'Người rừng' ung thư sống cùng khỉ, gấu trên đỉnh Fan
Ông Trần Ngọc Lâm nhiều lần dẫn tác giả xem cảnh phá rừng của lâm tặc trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn 
Chuyện là, khi ông tìm ra con đường ngắn nhất chinh phục đỉnh Fansipan, chỉ mất 2 ngày một đêm, thì cũng là lúc khách du lịch ầm ầm kéo lên Fan. Con đường đó chỉ cách nơi ở của đàn khỉ và vợ chồng nhà gấu một đoạn. Vì có nhiều người đi lại, gây ra tiếng ồn, nên chúng đã bỏ đi cả.

Trong các chuyến xuyên rừng đi tìm thuốc quý, ông Lâm thường truy tìm dấu vết của đàn khỉ và vợ chồng nhà gấu. Phải mất gần một năm sau, ông Lâm mới tìm thấy vợ chồng nhà gấu, khi chúng đang trú ngụ trong hang đá trên một mỏm núi rất cao ở phía Tây đỉnh Fansipan, thuộc đất Lai Châu.

Cánh rừng này cách hang ông Lâm ở một ngày cuốc bộ. Khu rừng này nguyên sinh tuyệt đối, vô cùng hiểm trở, ít dấu chân người.


 Mỗi khi muốn gặp đàn khỉ, ông Lâm vừa đi vừa thổi sáo. Khi bầy khỉ nghe thấy tiếng sáo, chúng hót ríu ran đáp lời. Cứ theo tiếng khỉ hót vạch rừng đi, thể nào cũng gặp được chúng.

Tôi đã có chuyến cuốc bộ theo ông Lâm xuyên qua những khu rừng vân sam cổ thụ, những khu rừng đỗ quyên đỏ rực, rừng chè ngàn năm, đại ngàn pơ-mu khổng lồ, thân phủ rêu xanh cao chót vót đẹp như trong cổ tích để đi tìm bọn khỉ.

Chiều xuống, nhóm lửa bùng bùng, ông Lâm lại lôi sáo trúc ra thổi. Ông thổi một lúc, thì từ xa vọng lại tiếng khỉ hót. Nhưng có mặt người lạ, chúng không dám đến. Ông Lâm bảo, nếu chỉ có mình ông, chúng sẽ tìm đến nhảy nhót nô đùa ríu rít trên ngọn cây.


Kỳ 8: Người mở đường lên Fansipan

Ông Lâm chào bằng tiếng Pháp, nhưng ông già này lại nói bằng tiếng Việt. Nhiều năm sống ở Việt Nam nên ông nói tiếng Việt rất sõi.

Ông giới thiệu tên là Christiane Pasquel Kagheau, 84 tuổi, từng là phó đồn Trạm Tôn, sống nhiều năm ở vùng núi này, cho đến khi quân Pháp thất thủ ở Điện Biên.

Tuổi đã già, song ông vẫn rất khỏe, leo núi phăng phăng. Ông muốn trước khi chết, được một lần thăm lại chiến trường xưa, nhất là vùng đất ông đã gắn bó suốt tuổi trẻ.

Con đường lên Fansipan do người Pháp mở được ông Lâm tìm lại toàn đi trên sống núi 
Vợ chồng ông đã thuê anh chàng người Mông cõng đồ và dẫn đường lên đỉnh Fansipan. Ông đi theo hướng đường từ bản Cát Cát, nên mất 4 ngày mới lên tới đỉnh.

Ông biết rằng, ngày xưa, đường lên Fan theo hướng khác, đi rất gần, chứ không xa xôi hiểm trở như con đường này. Tấm bản đồ quân sự vẽ chi tiết con đường do người Pháp vạch ra ông vẫn giữ trong tay. Ông lần mò theo tấm bản đồ để đi tìm con đường cũ. Không ngờ con đường cũ đó cắt qua cái hang ông Lâm ở.

Ông già người Pháp đã cho người dẫn đường đưa vợ về, còn ông ở trong hang cùng ông Lâm suốt một tuần.

Trong những ngày sống cùng ông Lâm giữa rừng, ông già người Pháp đã vẽ lại cho ông Lâm con đường lên đỉnh Fansipan ngắn nhất mà người Pháp mở, qua tấm bản đồ quân sự.

Nhiều đoạn đường đã bị rễ cây mọc trùm kín 
Tấm bản đồ quân sự đó ông giữ mấy chục năm nay làm kỷ niệm. Theo như tấm bản đồ, con đường lên đỉnh Fansipan mà người Pháp mở xuất phát từ Núi Xẻ, đi qua suối Vàng, rồi cứ cưỡi dọc sống núi Hoàng Liên Sơn mà đi. Đi theo hướng này sẽ rất gần. Những đoạn dốc đều đã được người Pháp làm bậc thang.

Khi đó, những người chinh phục Fansipan vẫn chỉ biết đến con đường lên Fan xuất phát từ bản Cát Cát. Chỉ có những nhà leo núi chuyên nghiệp, những người Mông khỏe như loài dê núi, mới dám đi con đường này, bởi nó quá xa, quá dốc, nhiều đoạn phải bám vào dây leo, bám vào vách đá trèo lên rất nguy hiểm.

Ông Lâm cũng đã nhiều lần đi theo con đường này và đã có lần ông phải khiêng xác một ông Tây vì rơi từ vách đá xuống. Chuyện những người chinh phục Fan phải bỏ xác trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn năm nào cũng có.

Có bản đồ sơ lược trong tay, cùng với ký ức xa xưa, ông Lâm và ông già người Pháp đã phát rừng đi tìm con đường cũ. Tuy nhiên, hai người xoay xỏa mấy ngày mà không tìm ra được.

Con đường này do người Pháp mở từ cả trăm năm trước 
Trước khi rời Hoàng Liên Sơn, ông già người Pháp nắm tay ông Lâm dặn dò: “Người Pháp từng cuốc vào vách đá, rồi rải đá, xếp đá làm đường để ngựa thồ hàng lên được tận đỉnh Fansipan. Các cô gái Pháp mặc váy ngắn, đi dép cao gót mà còn đi trong ngày được. Đường này vừa ngắn lại dễ đi nhất. Tôi đã nhiều tuổi, chắc không còn quay lại Việt Nam được nữa. Anh cố tìm lại con đường ấy nhé!”.

Sau khi ông già người Pháp về nước, suốt một năm trời ông Lâm lần mò, phát rừng tìm lại con đường xưa. Ông hì hục trong rừng Hoàng Liên Sơn để tìm con đường cũ chỉ với hy vọng sẽ có một lối đi về gần nhất, để ông có thể tranh thủ về thăm vợ con mỗi khi bệnh tình thuyên giảm.

Nếu đúng như lời ông già người Pháp nói, việc lên đỉnh Fan và về chỉ mất một ngày, thì ông Lâm sẽ không phải sống khổ sở như “người rừng” giữa đại ngàn Hoàng Liên nữa.

Những đoạn trúc mọc ken dày, ông Lâm chỉ việc rải muối nhiều lần. Trâu đi ăn muối, sẽ tạo thành đường. 
Và rồi, bằng sự kiên trì của ông, con đường mất tích mấy chục năm nay dưới lớp rễ cây, bụi cỏ, tầng tầng lớp lớp mùn đất, cũng hiện ra với các vách đá, bậc đá còn hiển hiện rõ dấu vết do công sức con người tạo ra.

Như vậy, nếu mở lại con đường này, người có khả năng đi rừng như ông, sáng trèo lên Fan, chiều đã có thể về Sapa. Còn với những người có sức khỏe bình thường, chỉ cần chưa đầy 2 ngày leo núi, đã có thể đặt chân lên “nóc nhà Đông Dương”.

Sau khi phát hiện con đường này, ông Trần Ngọc Lâm báo cho lãnh đạo huyện Sapa biết. Tuy nhiên, mấy vị lãnh đạo này không tin.

Bình thường, một người khỏe đi cũng phải mất 3 ngày 4 đêm mới lên đến đỉnh Fansipan, làm gì có con đường nào đi chỉ mất một ngày. Chuyện con đường chinh phục “nóc nhà Đông Dương” trong một ngày của ông Lâm chỉ có mỗi ông Lê Trọng Hùng, ngày đó là Giám đốc Trung tâm du lịch Sapa nửa tin nửa ngờ.

Ông Hùng đã đi theo ông Lâm, chụp ảnh tỉ mỉ con đường rồi báo cáo các lãnh đạo huyện để mở tuyến du lịch tuyệt vời này.

Lúc ấy, ông lãnh đạo từng bảo ông Lâm là hâm, là dở mới tin có con đường ngắn lên Fan thật. Ông này đã đi theo ông Lâm để xác minh lại thông tin.

Sau khi leo Fansipan về, ông ta trình bày một báo cáo hoành tráng với lãnh đạo tỉnh Lào Cai. Những người có mặt trong buổi báo cáo đó đã vỗ tay, tặng hoa, chúc mừng người… đầu tiên phát hiện ra con đường ngắn nhất chinh phục “nóc nhà Đông Dương”!

Báo chí, truyền hình kéo lên Lào Cai phỏng vấn, ca ngợi vị lãnh đạo huyện nọ như một người hùng, đã cất công ăn rừng ngủ thác nhiều tháng liền, để tìm ra “con đường huyền thoại” góp phần rất lớn vào việc phát triển du lịch cho Lào Cai nói riêng và đất nước nói chung!

Sau khi con đường mới lên đỉnh Fansipan được phát hiện, tỉnh Lào Cai đã lập dự án mở đường cho khách du lịch chinh phục Fan. Đích thân một số cán bộ tỉnh, huyện đã gặp gỡ ông Lâm, rồi “đặt hàng” ông phát quang, mở con đường này, để các kỹ sư dựa vào đó thiết kế, xây dựng thêm.

Ông Lê Trọng Hùng (bên phải) là người chứng kiến cảnh ông Lâm tìm ra con đường ngắn nhất lên Fansipan 
Được các lãnh đạo giao việc, ông Lâm rất mừng. Ông sống trong rừng, ngoài những lúc lấy thuốc, trồng, chăm bón cây thuốc, ông khá rỗi rãi. Việc phát quang, mở đường tuy rất vất vả, nhưng sẽ kiếm được món kha khá cho vợ con, lại tự mở được đường đi cho mình.

Thế là, suốt 2 năm trời đằng đẵng, ngày nắng cũng như ngày mưa, ngoài những lúc đi tìm thuốc, trồng thuốc, ông Lâm lại hì hụi với dao cuốc, xà beng.

Trên những sống núi cao, gió lớn quật ngày đêm, cây cỏ chỉ cao đến thắt lưng thì chỉ cần dùng dao phát, dùng cuốc xới tung lên là được.

Nhưng ở những khu rừng âm u, khuất gió thì rất tốn công sức, bởi những khu rừng này cây cối cổ thụ to khổng lồ, dây leo mọc chằng chịt. Có những đoạn đường bị rễ cây cổ thụ mọc trùm lên, phải dùng xà beng đào bới, dùng búa bổ cả ngày mới lộ ra những bậc đá.

Ngày trước, để lên Fansipan, phải mất 4-5 ngày, nhưng giờ chỉ mất 2 ngày. Vận động viên chỉ chạy 2 tiếng lên đến đỉnh núi. 

Phần lớn con đường nằm trên độ cao từ 2.800m xuống 2.100m đã bị trúc mọc ken dày trùm lên, thân cây nào cây nấy to gần bằng cổ tay. Mở đường xuyên qua rừng trúc vô cùng vất vả. Ông Lâm chặt chém cả ngày, gai trúc xé toạc quần áo, da thịt tứa máu mà chỉ được vài mét đường.

Ở những đoạn đường này, ông Lâm sáng tạo ra cách mở đường độc đáo. Ông rắc muối dọc con đường đó. Đàn trâu đồng bào thả vào rừng thấy muối nên cứ lần theo để ăn. Đàn trâu đi lại nhiều thì thành đường.

Sau hai năm trời kiên trì đào bới, phát cây, con đường chinh phục Fansipan từ thời Pháp đã lộ ra nguyên trạng. Tỉnh Lào Cai đã lập dự án tiêu tốn bạc tỉ để… mở đường du lịch thám hiểm lên “nóc nhà Đông Dương” từ con đường do ông Trần Ngọc Lâm tìm ra và phát quang.

Khi con đường hoàn thành, khi các vận động viên chạy lên đỉnh Fansipan chỉ mất 2 giờ đồng hồ, khiến giới mê rừng núi không khỏi ngạc nhiên, thì ông Trần Ngọc Lâm bị các vị lãnh đạo bỏ ra ngoài bộ nhớ.

Ông lên tỉnh đòi tiền công mở đường, tỉnh chỉ về huyện, về huyện thì lại bảo lên tỉnh. Đòi mấy lần không được, ông Lâm cũng quên luôn.

Đóng góp của ông Lâm cho con đường du lịch mạo hiểm lên đỉnh Fansipan không những không được ghi nhận, mà cũng kể từ đó, ông bị lãnh đạo Vườn Quốc gia Hoàng Liên đuổi ra khỏi rừng. Ông dựng lều ở đâu, họ bắt gặp là dỡ lều ở đó.

Tuy nhiên, mạng sống của ông gắn chặt với đỉnh núi này, nên họ phá lều, ông lại vào hang ở. Sau này, vị lãnh đạo mới lên thay, hiểu hoàn cảnh của ông nên không xua đuổi nữa, ông mới được yên thân.

Giờ đây, thay vì niềm tự hào tìm ra con đường mới, ông Lâm lại thấy hối hận vì đã công bố con đường này. Đường ngắn, dễ đi mở ra chỉ tổ giúp bọn lâm tặc phá rừng nhanh hơn, rồi đồng bào kéo vào sâu trong rừng đốt rừng trồng thảo quả. Một phần rừng Hoàng Liên Sơn bị trọc lơ trọc lốc cũng vì con đường này.

Khách du lịch kéo lên đông lại thiếu ý thức đã phá vỡ cảnh quan. Người dân kéo vào rừng nhổ sạch sẽ những cây thuốc quý bán cho người Trung Quốc khiến không ít loài đã tuyệt chủng


Kỳ 9 Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa Trong những chuyến đi rừng với “người rừng” Trần Ngọc Lâm, tôi được ông chỉ cho vô số loại cỏ, cây, củ, quả, toàn những thứ được coi là thần dược. Những loài cỏ, cây, mà các thiền sư Tây Tạng sử dụng, hầu như người Việt Nam chưa biết đến, cũng không có trong sách vở ngành dược.

Cách đây khoảng 7 năm, trong mỗi chuyến đi rừng, lúc nấu ăn, ông Lâm thường vào rừng nhổ một số loại cỏ để nấu canh. Ông Lâm thường nâng niu những chiếc lá nhỏ hình trái tim, có màu xanh tía, với những sợi óng ánh như kim tuyến.

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Cỏ nhung trong rừng Hoàng Liên Sơn với những chiếc lá óng ánh màu kim tuyến 
Khi đó, ở Việt Nam chẳng ai biết loại cỏ này, cũng không có trong sách, nên ông tự đặt tên cho nó là cỏ kim tuyến.

Ông Lâm bảo rằng, loài cỏ này là một vị thuốc cực quý, quan trọng thứ nhì trong bài thuốc chữa ung thư mà ông sử dụng để cứu mình.

Loài cỏ này thực sự là thần dược. Tôi ăn bát canh có lá kim tuyến, thấy sức khỏe hồi phục rất nhanh. Những lúc đi rừng mệt quá, không muốn bước nữa, chỉ cần bứt lá kim tuyến nhai sống, lại tiếp tục đi được.

Hồi trèo lên độ cao 2.800m, thấy loài cỏ này, ông Lâm đã xúc động trào nước mắt và ông tin rằng mình sẽ sống được. Ông cứ ngắt lá, thân, rửa qua nước suối rồi nhai tất. Thế mà sức khỏe hồi phục rất nhanh.

Tôi tin lời ông Lâm nói về thứ cỏ lạ này, nên đã mang chúng về Hà Nội, hỏi một số giáo sư, tiến sĩ chuyên ngành đông y, dược học. Tuy nhiên, ngày đó, chẳng vị nào biết về loại cỏ này. Có vị còn bảo nó chả có giá trị gì cả. Tôi cũng đã từng kỳ công dẫn bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng lên Sapa xem loài cỏ này, để tìm cách bảo tồn, nhưng ông cũng mù tịt nốt.

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Cây cỏ nhung mà ông Lâm gọi là kim tuyến do tác giả chụp trên độ cao 2.900m trong rừng Hoàng Liên Sơn 
Thời gian gần đây, khi người Trung Quốc phát hiện ở Việt Nam có loài cỏ này, đã thu mua ráo riết. Ở ngoài Bắc thì gọi nó là cỏ nhung, còn trong Tây Nguyên thì gọi là cỏ kim cương.

Trong khi các thương lái thu mua với giá bạc triệu cho một kg cỏ kim tuyến tươi, thì một số nhà dược học của ta vẫn khẳng định trên báo chí rằng loài cỏ này có giá trị rất thấp, chỉ sánh ngang… lá lốt.

Chính vì không hiểu họ mua để làm gì, nên không ít người có tính suy diễn đặt ra chuyện kẻ xấu lừa đảo đồng bào.

Ngành đông y nước Việt xét về tổng thể quả thực còn non trẻ so với người phương Bắc. Có vô số loài cây cỏ bí ẩn, là những thần dược thực sự, nhưng chưa được biết đến. Thậm chí, chẳng biết là cây gì, có tác dụng gì. Vậy nên, người ta vô tư thu mua những cây cỏ quý với giá… cỏ rác.

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Ông Lâm phải luồn lách khắp hang sâu núi thẳm để tìm thuốc quý tự cứu mình 
Ông Lâm vốn có bao năm bôn ba Trung Quốc, làm việc và sống với người Trung Quốc, nên ông biết họ cực kỳ cao thủ trong việc thu mua nguyên liệu thảo dược từ nước ngoài.

Họ không bao giờ họ tiết lộ công dụng của những thứ mà họ sẽ mua. Bởi vì, nếu công dụng của thứ họ mua lộ ra, người khác sẽ biết cách chế biến, sử dụng, như vậy, họ sẽ khó thu mua tiếp, hoặc phải thu mua với giá cao.

Ông Lâm có đến cả trăm ví dụ về sự khôn lanh của người phương Bắc. Họ làm giàu trên sự ngây thơ của chúng ta. Vô số loài thảo dược quý đã bị họ tận thu, mà chúng ta lại cười họ rằng bỏ tiền thu mua thứ vớ vẩn.

Bài thuốc trị ung thư của ông Lâm, do các thiền sư Tây Tạng chỉ cho gồm có 7 loại chính, trong đó quý nhất là ngũ trảo long, rồi đến cỏ nhung, giảo thiền kê, giảo cổ lam, bạch hoa xà…

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Đồng bào đã nhổ sạch cỏ nhung trong rừng Hoàng Liên Sơn bán sang Trung Quốc với giá rẻ mạt 
Hồi ông Lâm mới vào Hoàng Liên Sơn sống với thú hoang, cỏ nhung mọc lan khắp các hốc cây, bụi rậm. Thậm chí, chúng mọc đầy trong vườn thảo quả của đồng bào. Đồng bào phải nhổ bỏ đi.

Hồi ông Lâm nấu bát canh cỏ nhung cho tôi ăn, ông bảo: “Chú thân với cháu lắm, chú mới tiết lộ cho cháu về cây cỏ này. Cháu có biết người Trung Quốc và người Nhật mua cây cỏ này với giá bao nhiêu tiền không?”.

Thấy loài cỏ này mọc đầy trong rừng, tôi đoán bừa cỡ trăm ngàn. Tôi ngã bổ chửng khi ông Lâm tiết lộ rằng, cách đây 10 năm người Trung Quốc mua ở Tây Tạng với giá 5 triệu đồng/kg tươi dính cả đất ở rễ.

Người Nhật còn mua nó với giá đắt hơn nhiều. Nếu là cỏ nhung khô thì có giá trên 100 triệu đồng/kg. Thời điểm đó, vài kg cỏ nhung đổi được mảnh đất Hà Nội.

Lúc đó, tôi chợt nghĩ, hay bỏ công việc làm báo nhọc nhằn, đi nhổ cỏ nhung bán cho người Trung Quốc sẽ giàu to. Nhổ một ngày trong rừng thì được cỡ vài bao.

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Bác sĩ Nguyễn Hữu Trọng, người rất quan tâm đến cây cỏ, đã được tác giả dẫn lên Sapa 7 năm trước để nghiên cứu, mang về Hà Nội chiết xuất, nhưng cũng không biết cỏ nhung để làm gì 
Nhưng tôi chọn cách im lặng. Nếu người Trung Quốc biết có cỏ nhung ở Việt Nam, họ sẽ thuê người Việt nhổ sạch. Không có cỏ nhung, ông Lâm sẽ không sống được.

Ông Lâm cũng không muốn nói công dụng của nó với các nhà khoa học, bởi sẽ lại giống các cây cỏ khác, họ sẽ chẳng nghiên cứu đến đầu đến đũa, rồi thiên hạ biết, người Trung Quốc biết, sẽ bị nhổ sạch.

Mới đây, trở lại đại ngàn Hoàng Liên Sơn, lang bạt trong rừng, ông Lâm đố tôi tìm được cây cỏ nhung nào. Tôi và ông đi rạc cẳng chẳng kiếm nổi một cây.

Mấy năm trước, người Trung Quốc phát hiện ở Hoàng Liên Sơn có cỏ nhung, họ thuê đồng bào H’Mông nhổ. Đồng bào H’Mông như loài dê núi, luồn rừng cả ngày không biết mệt. Không đầy một năm, cỏ nhung trong đại ngàn Hoàng Liên bị nhổ sạch.

Lúc đầu, người Trung Quốc mua với giá 50 ngàn/kg, sau tăng lên 100 ngàn, 500 ngàn, 2 triệu đồng, và giờ là 5 triệu đồng cho một kg cây tươi gồm cả rễ dính đất. Khi cỏ nhung lên tới giá đó, thì Hoàng Liên Sơn đã sạch bóng loài cỏ này.

Giải mã bí ẩn loài cỏ trị giá 100 triệu đồng/kg ở Sapa
Ông Lâm phải trồng thuốc quý ở những nơi hiểm trở, bí mật để bảo tồn giống, có thuốc chữa bệnh 
Nhìn những chuyến xe chở cỏ nhung ùn ùn sang bên kia biên giới, ông Lâm buồn muốn rơi nước mắt. Thương lái mua cỏ nhung của đồng bào với giá 50 ngàn đồng và họ bán với giá 5 triệu đồng, thậm chí là 10 triệu đồng một kg tươi ở nước họ, hoặc bán sang Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản. Nếu là cỏ nhung sấy khô thì có giá cả trăm triệu đồng một kg. Đau xót không tưởng tượng nổi. “Vàng ròng” đã chảy hết sang bên kia biên giới.

Hai năm trước, cỏ nhung, còn gọi là kim cương bỗng sốt xình xịch ở Tây Nguyên, cũng là bởi người Trung Quốc phát hiện một số vùng núi cao ở Tây Nguyên có loài cỏ này. Học sinh bỏ cả trường lớp đi nhổ cỏ nhung bán cho thương lái với giá 200 ngàn/kg, sau lên 500 ngàn/kg. Giờ thì thứ cỏ bí ẩn này đã có giá tới 1 triệu đồng/kg.

Theo ông Lâm, sở dĩ cỏ nhung trong Tây Nguyên rẻ như vậy vì chất lượng không bằng ở Hoàng Liên Sơn. Loài cỏ này phải mọc ở độ cao trên 2.800m mới có giá trị dược liệu cao nhất.

Cho đến lúc này, một sự thực đau lòng, là cả các chuyên gia dược liệu, các nhà chức trách vẫn chưa biết cỏ nhung để làm gì, có tác dụng gì. Chẳng lẽ người ta bỏ cả núi tiền mua cỏ về cho dê ăn?

Theo ông Trần Ngọc Lâm, các thiền sư Tây Tạng sử dụng cỏ nhung để tăng cường sức khỏe, giải độc cơ thể, điều trị ung thư. Vận động viên của Trung Quốc thường dùng cỏ nhung trước các cuộc thi đấu bởi nó có tác dụng chẳng kém gì doping. Viện quân y Trung Quốc sử dụng cỏ nhung cùng một số vị khác trong điều trị ung thư từ rất lâu rồi.

Nhưng cỏ nhung có một tác dụng thần kỳ mà người Việt không biết, đó là có khả năng tái tạo tế bào, đặc biệt là tái tạo tế bào gan. Với tác dụng này, cỏ nhung thực sự là thần dược, cỏ trường sinh, quý hơn vàng ròng.

Chúng ta sẽ đặt câu hỏi, vì sao cỏ nhung đắt thế mà chúng ta không gieo trồng? Nếu trồng được loài cỏ này, thì nó đã chẳng đắt thế. Loài cỏ này chỉ mọc ở những chỗ ven suối, ẩm ướt, trong bóng tối, ở môi trường mùn dày. Nó không chấp nhận bất kỳ sự chăm sóc nào.

Ông Lâm cung cấp thông tin giá trị của cỏ nhung, để mong rằng, chính quyền ra sức bảo vệ loài cỏ cực quý này, trước khi chúng bị nhổ sạch khỏi lãnh thổ Việt Nam.

 Kỳ 10: "Vàng ròng" trong đại ngàn Hoàng Liên
Không chỉ cỏ nhung, thứ thần dược quý hiếm, mà vô số loài thảo dược cực quý trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn cũng bị người dân nhổ sạch bán sang Trung Quốc với giá rẻ mạt.

Hồi ông Trần Ngọc Lâm lên đỉnh Fansipan sống trong hang, ông bất ngờ khi phát hiện có rất nhiều thiết trúc nhân sâm ở độ cao từ 2.500m trở lên trên núi Hoàng Liên Sơn.

Loài sâm trúc này cũng từng có nhiều ở Tây Tạng, trên độ cao 4.000-5.000m. Các nhà sư Tây Tạng đánh giá nó quý ngang với sâm Triều Tiên. Họ gọi là sâm Hymalaya, còn người Trung Quốc gọi là thiết trúc nhân sâm, hoặc sâm trúc. Tuy nhiên, loài sâm này ở Tây Tạng đã cạn kiệt hoàn toàn do bị khai thác triệt để.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Đại ngàn Hoàng Liên Sơn chìm trong mây mù có rất nhiều dược liệu quý 
Sâm trúc có hình thù rất lạ, thân trông như củ, củ giống như thân. Loài sâm này mỗi năm một lần rụng lá và mọc thêm một đốt, dài bằng đốt ngón tay. Cây sâm càng già thì đốt càng ngắn lại. Mỗi năm nó chỉ ra 3-4 lá và mỗi lá có 7 thùy.

Củ sâm mọc ngẩng lên trời, nhưng được vài năm, thân nặng quá, lại gục xuống, rồi bị mùn lá phủ lên che kín, thành thử phần thân nó chìm trong đất đá. Củ của loài sâm này cũng hình người như những loài sâm khác.

Ông Lâm đã từng đào được một củ sâm 800 tuổi ở độ cao 2.700m trên sườn Fansipan phía Lai Châu. Sở dĩ ông Lâm khẳng định củ sâm này đã 800 tuổi, vì thân nó có đúng 800 đốt. Điều này có nghĩa cây sâm này mọc từ thời Trần.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Bình rượu ngâm một phần củ sâm 800 tuổi của ông Lâm 
Ông Lâm bảo rằng, ông thừa biết giá trị củ sâm đó rất khủng khiếp nếu bán sang Trung Quốc, tuy nhiên, ông đã không làm vậy. Nếu bán nó sang Trung Quốc, người Trung Quốc biết Hoàng Liên Sơn có sâm quý, họ sẽ tìm sang thu mua tận diệt.

Thế nên, thay vì bán củ sâm kiếm tiền tỉ, ông đã chặt khúc biếu hàng xóm, bạn bè, con cháu. Phần còn lại ông ngâm vào bình rượu to tướng và mời mọi người uống chơi.

Hồi ông Nguyễn Hữu Khai (Tập đoàn Bảo Long) và GS. Phạm Thanh Kỳ (nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Dược) lên Lào Cai, xem bình rượu ngâm củ sâm 800 tuổi của ông Lâm đã choáng váng.

Hai ông cho biết, dù có đào tung trái đất này, cũng không thể kiếm được củ sâm già khủng khiếp như thế. Trên thế giới, củ sâm 2-3 trăm tuổi, đã được coi là báu vật vô giá rồi.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Ông Lâm phát hiện vô số thảo dược quý trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn 
Ông Lâm chưa kịp mừng vì phát hiện “kho báu vật sâm” trong đại ngàn Hoàng Liên, thì một ngày, vào khoảng năm 2.000, ông bỗng thấy đồng bào H’Mông với gùi, cuốc, thuổng ầm ầm lên núi đào bới.

Ông Lâm hỏi họ kéo vào rừng đào bới gì, họ bảo đi kiếm “khoai lang núi”. Ông Lâm ngã ngửa khi thấy ai nấy cõng ật ưỡng gùi thiết trúc nhân sâm.

Lúc này, ông Lâm mới biết, người Trung Quốc mang củ thiết trúc nhân sâm có thân ngoằn ngoèo như con rắn, mỗi thân có nhiều đốt sang Lào Cai, đến tận các bản người H’Mông và nói rằng muốn thu mua thật nhiều… “khoai lang núi”. Họ bảo với đồng bào rằng cần thu mua những củ “khoai lang núi” này để… ăn chống đói.

Thế là, đồng bào ầm ầm vào rừng Hoàng Liên Sơn, đào bới không biết bao nhiêu “khoai lang núi”, hết tấn nọ đến tấn kia, bán cho người ta.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Gốc cây X. khổng lồ cho loài nấm Phục linh thiên 
Lúc đầu, giá mỗi kg “khoai lang núi” chỉ có mấy ngàn đồng, sau tăng lên vài chục ngàn, rồi tăng lên vài trăm ngàn đồng. Khi người Trung Quốc nâng giá “khoai lang núi” lên vài triệu một kg, thì có xới tung cả cánh rừng cũng chả tìm ra củ nào nữa.

Nhìn cảnh ấy, ông Lâm lòng đau như cắt. Gặp ai ông cũng bảo đây là loài sâm cực quý, chứ không phải “khoai lang núi”, nhưng không ai tin. Đồng bào H’Mông còn cãi rằng, củ này tổ tiên họ gọi là thằn lằn đá, vì thân nó giống con thằn lằn, lại mọc trên đá.

Đồng bào H’Mông cũng thường đào củ “thằn lằn đá” nhai sống như khoai, hoặc luộc ăn như thứ lương thực bình thường. Khi leo núi, thấy mệt, họ đào củ “thằn lằn núi”, ngậm miếng nhỏ trong miệng sẽ hết mệt.

Chỉ có ông Lâm mới biết “khoai lang núi”, hay củ thằn lằn đá chính là thiết trúc nhân sâm, một loài sâm có giá trị dược liệu tương đương sâm Ngọc Linh, không kém gì sâm Triều Tiên.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Tác giả bên một gốc cây X. quý hiếm trong đại ngàn Hoàng Liên Sơn 
Giờ thì loài sâm quý ấy, cùng với hàng chục loại dược liệu cũng đã biến mất khỏi đại ngàn Hoàng Liên Sơn. Giờ đây, người Việt muốn mua củ sâm vài chục năm tuổi, phải bỏ ra cả trăm triệu đồng. Sâm Ngọc Linh hoang dã hiện tại cũng có giá tới nửa tỷ đồng cho 1 kg.

Trong số hàng trăm dược liệu quý như báu vật ở Hoàng Liên Sơn, thì có một loài nấm vô cùng quý hiếm, được người Trung Quốc so sánh với vàng ròng, đó chính là nấm Phục linh thiên.

Hồi lang thang sâu trong rừng, ở độ cao 2.800m, ông Lâm đã phát hiện có một cánh rừng, toàn những cây X. (tác giả xin giấu tên) hàng ngàn năm tuổi. Cây nào cây nấy to vài người ôm, cao 60-70m, tán che phủ cả góc núi.

Cây này họ nhà thông, gỗ màu đỏ, vân đẹp hơn cả thủy tùng. Ở Trung Quốc, tại khu du lịch Vân Long, có 1 cây chỉ cỡ hơn 1 người ôm, mà họ rào kín và quảng cáo đã 1.000 năm tuổi, khiến du khách ùn ùn kéo tới chiêm ngưỡng. Loài cây này trên thế giới cũng vô cùng hiếm. Ở Việt Nam chỉ mới phát hiện duy nhất ở Hoàng Liên Sơn, trên độ cao 2.800m và số lượng khoảng 400 cây.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Củ nấm Phục linh thiên 
Loài cây này có sức sống vô cùng kỳ lạ. Ở độ cao như thế, lạnh giá, gió lớn, chỉ toàn đá trọc lốc, loài trúc chỉ nhỏ bằng que tăm, các cây khác chỉ cỡ bắp tay, nhưng cây X. đều to lớn khổng lồ. Ông Lâm để ý những cành cây bị gió quật gãy xuống đất, tới 2 tháng sau lá vẫn tươi nguyên.

Ở Tây Tạng cũng có một cánh rừng cây X. bí mật. Ông Lâm đã được theo chân các thiền sư đi lấy củ nấm này nên ông nhớ. Các thiền sư Tây Tạng chỉ dùng một lát nhỏ của củ nấm chế vào các vị thuốc điều trị ung thư cho các bệnh nhân nặng. Người Trung Quốc thường tìm lên Tây Tạng thu mua loài nấm này. Họ dùng vàng để mua bán. Củ nấm nặng 1 lạng, thì họ đổi 1 lạng vàng.

Xưa kia, loài nấm này dùng để cung tiến triều đình và chỉ vua chúa mới được ăn. Nấm Phục linh thiên hầm với chim công làm món ăn bổ dưỡng tuyệt đỉnh cho vua chúa.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Người Trung Quốc sẵn sàng đổi vàng lấy Phục linh thiên 
Bản thân tôi cũng đã được ông Lâm mời ăn thử món Phục linh thiên cực quý này. Chỉ có điều, không kiếm ra chim công, nên thay bằng… gà già. Điều khá lạ là củ nấm này khi chưa nấu thì mềm nhũn, nhưng đem hầm với gà mấy tiếng, đến xương gà cũng mục, thì miếng nấm lại cứng đơ, nhai giòn sần sật.

Cái tên nấm Phục linh thiên là do ông Lâm tự đặt ra. Ở Việt Nam, các nhà khoa học phát hiện loài nấm rất quý, mọc trong lòng đất, ở rễ cây thông trong Lâm Đồng, gọi là Phục linh thần. Loài nấm này mọc ở trên ngọn cây X., nên ông đặt là Phục linh thiên.

Khi cây X. bị thương, cây sẽ tiết ra nhựa để bảo vệ vết thương. Do một cơ duyên nào đó, loài nấm này sẽ mọc ở khối nhựa của cây X. Nó chỉ mọc vào thời điểm nhất định trong năm.

Một năm, ông Lâm chỉ thu hái được vài củ nấm. Có năm chẳng được củ nào. Ông không hái bán sang Trung Quốc kiếm vàng ròng, mà pha vào thuốc để chữa bệnh cho mình và cho các bệnh nhân khác.

Những thứ đắt như vàng ròng trong đại ngàn Hoàng Liên
Ông Lâm cho mẩu nấm Phục linh thiên vào bài thuốc điều trị ung thư thì thấy hiệu quả rõ rệt 
Ông Lâm kể rằng, hồi sang Tây Tạng thăm các thiền sư đã từng cứu sống ông, ông tặng các thiền sư ở đây mấy quả nấm Phục linh thiên của Hoàng Liên Sơn. Các vị thiền sư đã chết lặng khi nhận được món quà mà với họ là vô cùng quý hiếm.

Một vị thiền sư từng chữa bệnh ung thư cho ông Lâm hỏi: “Con lấy thứ quý hiếm này ở đâu ra vậy?”. Ông Lâm trả lời: “Ở Việt Nam con nấu canh ăn hàng ngày”. Vị thiền sư đã tát ông Lâm một cái nổ đom đóm và bảo: “Anh có biết việc anh ăn vô tội vạ như thế đã cướp đi sinh mạng của bao nhiêu người không?”.

Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về nấm Phục linh thiên, cũng không có nhà dược học nào biết về loài nấm này. Tuy nhiên, theo “người rừng” Trần Ngọc Lâm, qua thực tế sử dụng nhiều năm nay, ông thấy Phục linh thiên có tác dụng ức chế khối u. Khi ông cho thêm vài lát Phục linh thiên vào bài thuốc trị ung thư, ông cảm thấy tác dụng mạnh hơn, dài hơn. Ông cũng đã thử nghiệm trên nhiều bệnh nhân ung thư và thấy kết quả rõ rệt. Với người huyết áp thấp, ốm yếu, suy nhược, thì quả nấm Phục linh thiên có tác dụng kỳ diệu.


(Còn tiếp)

CUỘC CHIẾN BA-TƯ VẪN CÒN TIẾP DIỄN

Việt Nam sẽ rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc hay đi theo con đường Myanmar?

LTSMức độ chính xác của những “thông tin” đưa ra trong bài dưới đây chưa thể kiểm chứng được; tuy nhiên, chúng tôi cho đăng tải bài này để độc giả tham khảo và suy ngẫm về con đường Việt Nam phải đi trong những năm tới, với bối cảnh phức tạp, khó khăn của tình hình chính trị đối nội lẫn đối ngọai và trước sự  lúng túng của ban lãnh đạo đảng CS trong việc chọn lựa giải pháp tối ưu cho chính đảng của họ cũng như cho đất nước hiện nay.

Tháng 1/2013 này Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Hội nghị Trung Ương 7) sẽ diễn ra. Đây là hội nghị đặc biệt quan trọng để xác định tiến trình đổi mới chính trị của Việt Nam sẽ tiếp tục như thế nào. Bộ Chính Trị (BCT) đang đấu nhau rất căng về chương trình nghị sự cho hội nghị này. Trung Quốc thì vẫn đang thọc sâu vào vấn đề này để buộc Việt Nam đi theo hướng mà họ mong muốn. Đây sẽ là một thảm hoạ cho Việt Nam nếu chúng ta không sớm tạo được một quỹ đạo độc lập cho mình.

Cần phải nhắc lại là, vào tháng 5/2011, việc Trung Quốc gây hấn trên biển Đông, cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh 02, đã làm nóng xu thế chống đối Trung Quốc ở Việt Nam. Cùng thời gian này, ông Dũng đang sa lầy trong các vấn đề kinh tế cũng như bê bối tham nhũng, tiếng nói không còn trọng lượng. Ông Sang đã tranh thủ thời cơ thúc đẩy ông Trọng đưa vào chương trình nghị sự Hội nghị Trung Ương 2 (tháng 7/2011) việc nghiên cứu để chuyển đổi theo hướng dân chủ xã hội. Đây là mô hình phổ biến ở Bắc Âu, được coi là anh em song sinh của chủ nghĩa xã hội. Hội nghị này cũng đã đồng ý tiến hành việc nghiên cứu mô hình chuyển đổi của Myanmar, đồng thời cũng không xác định “các thế lực thù địch” như là một nguy cơ của chế độ. Vào tháng 10/2011, tại Kỳ họp thứ nhất Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2011 – 2015, ông Trọng đã có một bài phát biểu về việc nghiên cứu những mô hình đổi mới. Đây là một bài diễn văn rất tiến bộ hiếm có của ông Trọng, trong đó đề cập đến mô hình dân chủ xã hội.

Tuy nhiên, sau Hội nghị Trung Ương 2 thì Trung Quốc đã ra tay phá hoại quyết liệt xu hướng này thông qua bàn tay của phe ông Dũng. Chỉ bằng một câu Hồ Cẩm Đào nói với ông Trọng trong chuyến viếng thăm Trung Quốc tháng 10/2011 là “không để các thế lực thù địch phá hoại quan hệ hai Đảng, hai nước”, thì sau khi về nước một chiến dịch của ông Dũng khai thác câu này đã dấy lên xu hướng đàn áp “thế lực thù địch” để bảo vệ chế độ một cách khủng khiếp tới bây giờ. Công bằng mà nói thì ông Trọng đầu tiên không muốn đưa câu này của Hồ Cẩm Đào vào bản tuyên bố chung của chuyến thăm. Vì thế mà việc ra tuyên bố dã bị đình trệ mất vài ngày. Trong lúc đó ở nhà, ông Dũng vận động các nhân vật bảo thủ khác ép ông Trọng phải chấp nhận. Cùng thời gian đó ông Sang đang ghé thăm Ấn Độ. Kết quả cuối cùng là ông Trọng buộc phải chấp nhận, rồi phóng lao thì phải theo lao. Hơn nữa, khi đang ở Trung Quốc, ông Trọng còn bị một sức ép từ Trung Quốc là họ đe doạ sẽ công bố một số bí mật khác về Hồ Chí Minh, trong đó có liên quan đến Công Hàm 1958, nếu không chấp nhận yêu sách của Trung Quốc. Kể từ đó việc nghiên cứu xu hướng dân chủ xã hội và mô hình Myanmar đã hoàn toàn bị phá hoại. Ông Dũng còn mạnh dạn tấn công ngược lại ông Sang là hữu khuynh theo đường lối xét lại của các thế lực thù địch mà ông Dũng ám chỉ rõ là nhóm Trần Đông Chấn kết hợp với Đảng Dân Chủ Việt Nam.

Từ đó đến nay, các chương trình nghị sự về cải cách chính trị đều bị gạt qua một bên để dành cho việc chỉnh đốn Đảng và chống “thế lực thù địch”. Trung Quốc đã thành công trong việc trì hoãn tiến trình đổi mới của Việt Nam, đẩy Việt Nam lấn sâu hơn vào khủng hoảng và đấu đá nội bộ, để nội lực Việt Nam suy yếu nhất. Đây là lúc để họ đẩy thêm bước nữa để Việt Nam phải lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. BCT đã hoàn toàn hết ảo tưởng rằng suy thoái sẽ sớm qua đi, họ đã biết rằng phải có tiền từ bên ngoài, ít nhất là 70 tỷ USD, thì mới có thể tránh được sự sụp đổ rối loạn. Nợ xấu ngân hàng chính thức báo lên BCT là hơn 30% và sẽ còn tiếp tục tăng cao trong mấy tháng tới vì hầu hết các dự án bất động sản đều không có khả năng thanh toán ngân hàng. Dự báo trong 6 tháng tới, con số này sẽ vượt mức 50%. Hiện nay trong BCT đang tranh cãi gay gắt là sẽ xin khoản tiền này từ đâu? Nếu Việt Nam nhận tiền cứu trợ từ Trung Quốc thì sẽ tái diễn một cái gì đó tương tự như Hiệp định Biên Giới 1999 cho biển Đông, và rất nhiều hậu quả khôn lường khác.

Ông Sang hiện nay vẫn đang cố gắng thúc đẩy xu hướng mà ông mong muốn trước đây, đó là dân chủ xã hội và dân chủ hoá kiểu Myanmar. Dù đã tranh thủ được nhiều sự ủng hộ hơn trước nhưng vẫn chưa có gì chắc chắn là sẽ thành công. Vừa rồi ông ấy đã có phát biểu rất mạnh về việc Myanmar có khả năng sẽ vượt mặt Việt Nam trong một cuộc tiếp dân ở thành phố Hồ Chí Minh. Chi tiết này chỉ được mỗi tờ Tuổi trẻ đưa, tất cả các tờ báo khác đều bị chặn.

Tháng trước, ông Nguyễn Xuân Ngãi (đảng Dân Chủ Việt Nam và cũng là một trong những người khởi xướng phong trào Con Đường Việt Nam) đã suýt được về Việt Nam thông qua một chương trình hợp tác y tế. Phe cấp tiến muốn thực hiện điều này để tạo nên một hình ảnh về sự hoà hợp, làm tiền đề cho những cải cách chính trị tiến bộ. Tuy nhiên phe ông Dũng với đầy đủ vây cánh đã phá hoại việc này bằng nhiều thủ thuật, và cuối cùng ông Ngãi đã không được cấp visa vào Việt Nam. Cuộc chiến nội bộ để xác lập xu thế đổi mới chính trị đang diễn ra gay gắt khắp mọi nơi, từ cao xuống thấp, từ trong ra ngoài nước. Ông Ngãi được nhìn nhận như một nhân vật đảng phái ngoài Đảng CSVN có thể chấp nhận theo quan điểm của phe cấp tiến, ôn hoà và thật lòng, có khả năng đóng góp cho sự xây dựng đất nước. Còn ông Nguyễn Sỹ Bình thì bị phản đối quyết liệt. Việt Tân thì càng khỏi phải nói, một mất một còn với Đảng CS. Trước khi bị bắt, ông Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Công Định đã gặp ông Nguyễn Sỹ Bình vì một mục tiêu quan trọng là đề nghị đảng Dân Chủ Việt Nam nên hướng đến mô hình dân chủ xã hội để thúc đẩy xu hướng này và đón đầu cho sự thay đổi. Ông Thức tuy từ chối tham gia đảng Dân Chủ Việt Nam nhưng đã hứa giúp ông Bình tạo ra một blog giới thiệu và cổ suý cho mô hình dân chủ xã hội. Việc làm này đã bị an ninh sau này bóp méo thành việc thành lập một đảng xã hội giúp đảng Dân Chủ Việt Nam tập hợp lực lượng. Ông Dũng đã tìm cách gán vụ án này có liên hệ với ông Sang, cho rằng ông Sang dùng “những kẻ phản động” để thúc đẩy mô hình dân chủ xã hội, thực chất là chống Đảng CSVN, lật đổ chính quyền, để hạ bệ ông Sang. Tuy không hạ bệ thành công ông Sang, nhưng ông Dũng cũng đã ép được ông Sang đã phải kiểm điểm “vì mất cảnh giác”. Đây là một mối thù cá nhân ông Sang chắc chắn sẽ đòi lại từ ông Dũng. Có thể nói, sắp tới đây, cuộc chiến Ba-Tư sẽ “không chỉ là đấu đá cá nhân” mà đại diện cho xu thế thay đổi chính trị quan trọng của đất nước.

Ý tưởng cơ bản của ông Sang là Đảng CSVN chủ động thay đổi như Myanmar, tức là chấp nhận nới lỏng cho một lực lượng chính trị ngoài Đảng CSVN tham gia vào chính trường, với điều kiện lực lượng này chấp nhận một sự thay đổi theo mô hình dân chủ xã hội, tức là không bài bác chủ nghĩa Mác nhưng sẽ cải cách triệt để về bản chất của ĐCS, để cộng tác với ĐCSVN xoay chuyển tình hình đất nước. Ông Sang tin rằng làm được như vậy sẽ nhận được sự ủng hộ của các nước tiến bộ, nhất là Mỹ, tranh thủ được sự trợ giúp tài chính và kinh nghiệm để Việt Nam vượt qua khủng hoảng mà không bị lệ thuộc vào Trung Quốc. Một sự nới lỏng như vậy chắc chắn cũng được nhân dân ủng hộ.

Tuy nhiên, hiện giờ vì thiếu thông tin nên dư luận xã hội có vẻ không thuận theo xu thế ông Sang muốn. Báo mạng “lề trái” thì hướng đến xóa bỏ hoàn toàn Đảng CSVN và xã hội chủ nghĩa, làm cho con bài “thế lực thù địch” của Nguyễn Tấn Dũng càng đắt giá. Còn đa số người dân trong nước thì tù mù và thờ ơ. Nếu dư luận xã hội hiểu và có thể tạo sức ép đủ lớn, thì xu thế này lại có cơ hội được đưa ra trong Hội nghị Trung ương 7 sắp tới. Việc mở cánh cửa cho người dân phúc quyết bản Hiến pháp sửa đổi sắp tới cũng là một khả năng để ngỏ và sẽ tùy thuộc vào xu thế Hội nghị Trung Ương 7, có thể sẽ kéo đến Hội nghị 8 và 9 (tháng 4 và tháng 7/2013).

(Độc giả Dân Luận)

MIẾN ĐIỆN VÀ VIỆT NAM

BÁO CHÍ TƯ NHÂN MIẾN ĐIỆN ĐƯỢC CẤP GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG


Sau gần nửa thế kỷ bị cấm, báo chí tư nhân Miến Điện sẽ được hoạt động trở lại. Bộ Thông tin Miến Điện thông báo kể từ ngày 01/04/2013 Naypyidaw sẽ cấp giấy phép hoạt động cho các tờ báo tư nhân. Sau hai năm lên cầm quyền chính quyền Miến Điện tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải tổ. 

Thông cáo trên mạng của Bộ Thông tin Miến Điện đề ngày 28/12/2012 quy định kể từ ngày 01/02/2013 được quyền đăng ký xin giấy phép hoạt động các tờ báo phát hành trên toàn quốc hoặc chỉ thu gọn ở cấp vùng và bất luận đó là những tờ báo bằng ngôn ngữ Miến Điện hay bằng tiếng của các dân tộc thiểu số, hoặc tiếng nước ngoài. Tuy nhiên người đứng tên xin đăng ký phải mang quốc tịch Miến Điện.

AFP nhắc lại, cách nay nửa thế kỷ và cho đến tận ngày hôm nay, chính quyền quân sự Miến Điện đã quốc hữu hóa các nhật báo. Hiện mới chỉ có một số các tuần báo tư nhân được phép hoạt động. Theo lời Tổng biên tập tạp chí hàng tuần The Voice Weekly hiện có 5 tuần báo Miến Điện đang rất muốn được phát hành hàng ngày. Chủ nhân tạp chí 7Days News nhấn mạnh thông báo nói trên của chính quyền được coi là một «cột mốc quan trọng đối với ngành báo chí, đối với Miến Điện và người dân xứ này».

Một số nhà phân tích cho rằng các phương tiện truyền thông Miến Điện đã được cởi trói đáng kể từ khi tập đoàn quân sự tự giải tán vào tháng 3/2011. Kể từ tháng 8/2013 Naypyidaw đã chấm dứt chính sách kiểm duyệt báo chí. Nhiều nhà báo đã được trả tự do. Lãnh đạo đối lập, Aung San Suu Kyi thường xuyên chiếm trang nhất các tạp chí và nhiều phóng viên đã bắt đầu mạnh dạn đề cập tới những chủ đề nhạy cảm như tham nhũng. Vào tháng 10/2012 chính quyền thông báo cải tổ hệ thống điều hành của ba tờ báo nhà nước là New Light of Myanmar ấn bản bằng tiếng Anh, tờ Myanma Alin và Kyemon.

Tuy nhiên theo bảng xếp hạng của tổ chức Phóng viên Không biên giới, Miến Điện vẫn là một trong những quốc gia vi phạm quyền tự do báo chí nghiêm trọng nhất trên thế giới. Quốc gia Đông Nam Á này xếp hạng thứ 169 trên tổng cộng179 nước.

T.H.

Cái chết của ông Hoàng đế Đỏ (phần 4)

Cay Rademacher
Phan Ba dịch
THỨ BA, NGÀY 11 THÁNG 5, Trung Nam Hải. Một nữ y tá chạy đến chỗ bác sĩ Lý Chí Thỏa, vì viên Chủ tịch lại lên cơn tim. Người bác sĩ riêng của Mao, một vài đồng nghiệp và nữ y tá cố ổn định tình trạng của bệnh nhân và trong lúc hấp tấp đã làm một việc mà họ đã không dám làm trong vòng hai năm vừa qua: họ đẩy Trương Ngọc Phượng, người đứng cản đường họ, sang một bên.
Con người 32 tuổi này, người mà Mao đã biết đến cách đây 14 năm như là nhân viên phục vụ trên chiếc tàu hỏa đặc biệt của ông ấy, là cơn ác mộng của các bác sĩ. Từ năm 1974, trên thực tế là bà ấy nắm độc quyền tiếp xúc với ông Chủ tịch, điều không những khiến cho Hoa Quốc Phong và Giang Thanh hết sức bực tức, mà cả bác sĩ Lý chịu trách nhiệm về sức khỏe của Mao nữa.
Ông hầu như không còn có thể chẩn đoán cho bệnh nhân nổi tiếng của ông ấy được nữa, vì người này từ chối những cuộc điều trị kéo dài. Thường thì sau nhiều ngày thúc dục, người bác sĩ chỉ có thể thuyết phục được Mao và người vợ bé của ông ấy ít nhất là để cho lấy vài mẫu máu.
Y tá bí mật mang nước tiểu của Mao ra, để các bác sĩ có thể cho người phân tích được. Nhưng Trương Ngọc Phượng cứ đơn giản là từ chối nhiều đề nghị chữa bệnh và cưỡng lại các bác sĩ bằng cách chỉ cho truyền dịch glucose.
Vào ngày 11 tháng 5 đó, Mao ốm yếu. Ông ấy bồn chồn cho tới mức những người phục vụ của ông ấy đặt thêm một cái giường to thứ nhì vào trong ngôi nhà tắm và thường xuyên kéo ông ấy đi từ giường này sang giường kia, để làm giảm bớt sự bức rứt của ông ấy. Ông ấy chỉ còn có thể ăn xúp gà hay xúp bò mà một người nữ y tá nhỏ từng giọt vào cho ông. Với thực phẩm qua tĩnh mạch, bác sĩ Lý có thể cải thiện tình trạng đôi chút – sau khi ông ấy phải thuyết phục Trương Ngọc Phượng về tính không nguy hiểm của dịch truyền, bằng cách tự thử cho mình trước mắt của bà ấy.
Cơn đau tim tuy qua được, thế nhưng nó là lần khởi đầu của sự chấm dứt. Quyền lực  kỳ lạ của Trương Ngọc Phượng ở xung quanh Mao bây giờ bị giới hạn, vì sự sa sút về thân thể của viên Chủ tịch đã khiến cho sự tiếp cận trực tiếp của các bác sĩ trở nên cần thiết.
Bộ Chính trị, cho tới nay đều trình ra tất cả các nghị quyết để được ông cho phép, quyết định dưỡng sức cho Mao và chỉ còn quấy rầy ông ấy trong những trường hợp đặc biệt.  Qua đó, viên Đại Chủ tịch dần mất đi sự kiểm soát Đảng của ông ấy.
Ông ấy đánh mất sự kiểm soát cơ thể mình vào ngày 26 tháng 6, khi lại một cơn đau tim hạ gục ông ấy. Trung ương Đảng loan báo, rằng từ bây giờ Mao không tiếp khách nước ngoài nữa. Người ta không đưa ra lý do, nhưng nhiều người hiểu việc đấy như là lần loan báo cái chết sắp đến của ông ấy.
Cứ tám tiếng một, một đội năm bác sĩ và tám nữ y tá bây giờ lo cho sức khỏe của người bạo chúa. Bác sĩ Lý dọn vào một gian phòng cạnh những phòng của Mao và túc trực sẵn sàng. Từ quan điểm y học, ít bác sĩ hơn cũng đã đủ, nhưng từ quan điểm chính trị thì không: ngay khi tình trạng của Mao xấu đi thấy rõ trong năm 1972, Giang Thanh đã gọi bác sĩ Lý là thành viên của một “nhóm điệp viên” muốn tiêu diệt Mao.
Càng có nhiều chuyên gia thì mối nguy hiểm bị hy sinh như là người phải chịu tội sau khi Mao chết lại càng ít đi.
Cộng thêm vào số bác sĩ và y tá là bốn chính khách, những người thay nhau trong ca mười hai tiếng để canh chừng: Hoa Quốc Phong và người phe cánh tả Trương Xuân Kiều cũng như người ủng hộ Hoa là Uông Đông Hưng và ứng cử viên cánh tả Vương Hồng Văn.
Cạnh bên giường người chết của Mao, cuộc tranh giành quyền lực đã bắt đầu.
Khi bác sĩ Lý báo cáo về tình trạng của người Chủ tịch trước Bộ Chính trị, ông ấy chỉ có thể trình bày những dự đoán đen tối: Mao bị nhiễm trùng đường hô hấp, có một trái tim yếu và chức năng thận bị giới hạn.
Vì thế mà Giang Thanh đã quở trách ông ấy: “Rõ ràng là anh không được cải tạo tốt. Trong xã hội tư bản, bác sĩ là chủ và y tá là những người phục vụ. Vì thế mà Chủ tịch luôn khuyên rằng chúng tôi chỉ nên tin một phần ba những gì các bác sĩ nói.”
Thủ tướng Hoa Quốc Phong đọc một bài diễn văn ca ngợi người đã chết. Chỉ vài tháng trước đó, Mao đã gây ngạc nhiên khi xếp đặt người cán bộ hầu như không được biết đến này trở thành người kế nghiệp mình – và qua đó cũng đã gây trở ngại cho các tham vọng của người vợ cực tả của mỉnh. Giang Thanh (phải). Ảnh: GEO Epoche
Thủ tướng Hoa Quốc Phong đọc một bài diễn văn ca ngợi người đã chết. Chỉ vài tháng trước đó, Mao đã gây ngạc nhiên khi xếp đặt người cán bộ hầu như không được biết đến này trở thành người kế nghiệp mình – và qua đó cũng đã gây trở ngại cho các tham vọng của người vợ cực tả của mỉnh. Giang Thanh (phải). Ảnh: GEO Epoche
THỨ TƯ, NGÀY 28 THÁNG 6, tỉnh Hà Bắc. Mặt đất rung chuyển vào ngày đầu tiên của tháng 7 theo lịch Trung Quốc, tháng mà các hồn ma xấu xa hoạt động. Cơn động đất mạnh 8,2 độ trên thang Richter – đó là một trong những trận động đất tồi tệ nhất trong lịch sử của Trung Quốc. Vào ban đêm của ngày hôm đó có thêm một trận nữa, chỉ nhẹ hơn không đáng kể.
Nhà cửa và cầu của thành phố công nghiệp Đường Sơn sụp đổ, hỏa hoạn lớn hoành hành. Đại diện chính quyền sau này nói là có 242.000 người chết và 164.000 người bị thương nặng, các nhà quan sát người nước ngoài còn cho rằng có hơn 600.000 người chết.
Cả ở Bắc Kinh mặt đất cũng rung động, tuy vậy, với những hậu quả ít tàn khốc hơn rất nhiều. Cư dân của Trung Nam Hải bị lay dậy từ trong giấc ngủ và một vài ngôi nhà bị hư hại nhẹ, trong đó có ngôi nhà tắm của Mao.
Bác sĩ, y tá và cận vệ chuyển chiếc giường với viên Chủ tịch – người vẫn rất tỉnh táo và ghi nhận rõ rệt những gì đang xảy ra – qua một lối đi sang căn nhà số 202 nằm ở bên cạnh, mới xây xong năm 1974 và được cho là có thể chịu đựng được động đất.
Hoa Quốc Phong cố lợi dụng trận động đất cho các mục đích chính trị. Vào ngày 1 tháng 9, ông ấy – “nhân danh Mao” – công khai khen ngợi các biện pháp cứu trợ, cho là những biện pháp đó có tác động nhiều hơn là các biện pháp sau thảm họa đầu những năm 60 rất nhiều.
Thế nhưng muốn trục lợi về mặt chính trị qua một trận động đất là một việc làm hết sức không khéo léo. Vì ở Trung Quốc, thiên tai được xem như là điềm báo trước cho lần thay đổi người cai trị sắp sửa đến, và lần nhắc đến Mao đã bệnh không cứu chữa được nữa hẳn phải khiến cho người Trung Quốc nào cũng phải khiếp sợ.
THỨ TƯ, 8 THÁNG 9, Trung Nam Hải, ngay trước nửa đêm. Mặc dù đã muộn, nhưng phía sau tấm bình phong che giường của Mao lại trước phần còn lại của căn phòng vẫn đầy người, vì 24 giờ là lúc đổi ca. Mười bác sĩ và sáu y tá thì thầm trao đổi những báo cáo thường nhật, thêm vào đó là bác sĩ Lý, Hoa Quốc Phong, thêm các thành viên Bộ Chính trị khác, cận vệ và Trương Ngọc Phượng.
Người vợ bé lắng nghe những âm thanh từ miệng của Mao, rồi bà ấy gọi viên bác sĩ riêng đến giường: “Chủ tịch muốn nói chuyện với anh!”
Bác sĩ Lý cầm tay Mao, nhưng mặc dù cố gắng ông ấy vẫn không thể hiểu được viên Chủ tịch đang muốn nói gì với mình, và vì thế nên lầm bầm một vài điều không quan trọng để trấn an – Mao vẫn còn chưa biết ông ấy bị bệnh gì và tình trạng của mình ra sao.
Có lộn xộn ngắn khi Giang Thanh chạy vào. Cho tới lúc đó, tất cả những người có mặt đều nói thì thầm, thế nhưng bây giờ bà ấy với giọng nói bồn chồn đã át cả tiếng rì rì của cái máy hô hấp. “Ai đó có thể nói cho tôi biết có việc gì không?” Hoa Quốc Phong, người đã cho gọi bà ấy vì phỏng đoán rằng Mao sẽ chết, trấn an bà ấy mà không giải thích lý do cho lời yêu cầu của mình hay còn nói cả cái từ “chết” gây kinh sợ đấy ra nữa.
Gương mặt vào lúc trước đã từng tròn trĩnh của Mao bây giờ chảy xệ xuống và xám xịt, mắt của ông ấy không còn tinh anh nữa. Thế nhưng trong một khoảng khắc, viên Chủ tịch dường như hài lòng, đôi má hồng lên.
Nhưng rồi thân thể của ông ấy nhũn xuống: mười phút sau nửa đêm, Mao Trạch Đông chết. Đó là ngày thứ năm, 9 tháng 9 năm 1976.
Trong số người đang hiện diện, hầu như không có ai xúc động thật sự. Giang Thanh la mắng các bác sĩ, nhưng bất thình lình trấn tỉnh lại. Các bác sĩ lo sợ sẽ bị bắt giữ như những “kẻ có tội”, đồng thời phải lo sao cho xác chết còn hơi ấm này được bảo tồn. Các nhà giải phẫu và mô học của Viện Y Khoa Bắc Kinh bị gọi dậy vào lúc nửa đêm và bị triệu đến Trung Nam Hải. Đồng thời, Bộ Chính trị họp hội nghị.
Vào khoảng bốn giờ sáng, bác sĩ Lý nhẹ nhỏm vì biết tin, rằng Bộ Chính trị sẽ không lên án các bác sĩ – và kinh hoàng vì biết tin, rằng Bộ Chính trị đã quyết định bảo tồn xác chết không chỉ một tuần mà là mãi mãi. Ý muốn được thiêu của Mao bị phớt lờ đi.
Các bác sĩ đều bất lực. Không một ai trong số họ có kinh nghiệm trong việc bảo tồn lâu dài một xác chết. Một nữ chuyên gia được gửi đến thư viện chuyên môn gần nhất để tìm kiếm các tài liệu thích hợp, những người khác thương lượng với các quan chức cao cấp đang tụ tập trong nhà 202, cho tới khi những người này cuối cùng rồi cũng cho phép hạ máy điều hòa từ 25 xuống 10 độ Celsius.
Điều duy nhất mà bác sĩ Lý biết, là ba người thánh cộng sản được ướp xác “vĩnh cửu” khác đã có nhiều vấn đề: ở Lênin và Stalin – cho tới khi ông ta biết mất dưới thời Khrushchev – trong Liên Bang Xô viết cũng như ở Hồ Chí Minh tại Bắc Việt Nam, tai và mũi ngay sau một thời gian ngắn đã thối rữa và phải được thay thế bằng những mô hình bằng sáp.
Các bác sĩ đọc trong một tờ báo Phương Tây, rằng phải xử lý xác chết với 12 đến 16 lít formaldehyde, tiêm vào một vài giờ sau khi chết. Nhưng bác sĩ Lý muốn cho chắc ăn và cho bơm 22 lít vào trong xác của Mao.
Vào khoảng mười giờ sáng, công việc đấy chấm dứt – với kết quả đáng sợ: mặt, cổ và thân thể của Mao sưng phồng lên một cách kỳ quái, chất formaldehyde trào từng giọt một ra từ lỗ chân lông như mồ hôi.
Thế là các bác sĩ phải cực nhọc dùng khăn và bông để chậm hết chất lỏng ấy trên gương mặt và nhét thân xác đấy vào trong một bộ quần áo của Mao, cái được xẻ ra ở lưng để nó vừa với thân hình đã phồng lên.
Trong lúc đấy, da ở má phải của Mao vỡ ra; nơi hư hỏng đấy được che lại bằng Vaseline và phấn. Vào khoảng 15 giờ, người chết trông có vẻ chấp nhận được, vài giờ sau đấy, ông ấy được đặt vào trong một cái quan tài bằng kính, kín khí và được chở vào trong Đại hội đường Nhân dân.
Từ năm 1930, Mao đã bị giới báo chí quốc tế tuyên bố chết tám lần, thế nhưng tin lần thứ chín, được chính thức tuyên bố vào cái ngày đấy lúc 16 giờ, là đúng.
Người ta tuyên bố quốc tang một tuần. Trong tuần đó, 300.000 người dân được lựa chọn ra để đi ngang qua chiếc quan tài bằng kính với xác chết được xử lý một cách cực nhọc ở trong đó – thế nhưng thiếu sự xúc động như sau cái chết của Chu Ân Lai.
Liên bang Xô viết thù địch với Bắc Kinh loan tin Mao chết trong một bài báo ở trang ba của tờ Izvestia và không gửi lời chia buồn từ chính phủ đến chính phủ, mà chỉ từ ĐCS đến ĐCS – việc bị người Trung Quốc từ chối một các thô lỗ vào ngày 14 tháng 9.
Đỉnh cao của các nghi thức diễn ra vào ngày 18 tháng 9 trên Thiên An Môn. Đài phát thanh và truyền hình truyền trực tiếp, khoảng 500.000 người đã tụ họp lại trên quảng trường. Trời nóng bức. Vào lúc 15 giờ, còi nhà máy và còi tàu thủy kêu vang ba phút, rồi sự yên lặng thống trị ba phút liền.
Sau đó, Hoa Quốc Phong đọc một bài diễn văn dài ca ngợi người chết, trong đó có một vài mũi nhọn gần như không che đậy hướng đến Đặng Tiểu Bình và Giang Thanh.
Thế nhưng người vợ góa của Mao – người gửi chồng mình vòng hoa chia buồn với dòng chữ “Người học trò và bạn chiến đấu của anh” – được chiếu thật lâu trong truyền hình cùng với những người nổi tiếng theo bà ấy.
Cuộc tranh giành quyền lực quanh người kế nghiệp Mao đang tiến đến gần đỉnh cao của nó.
(Còn tiếp)